Wednesday, June 17, 2026

C95: Anabaptist 3

Anabaptist 3:

Dẫu không muốn tiếp tục tìm hiểu thêm về cái đạo mắc dịch của mấy kẻ khỉ ho cò gáy này, lời thề Phật Pháp Vô Biên thệ nguyện học, đã thấm sâu vào máu từ bao giờ. A Đường phải hoàn thành lời khấn nguyện của chính hắn trong kiếp ấy, để đóng lại một tab linh hồn còn dang dở, trong bao nhiêu tệp đính kèm dở dang mà hắn và đồng bọn đã vô tình ghim gúc. Thế là, mọi trì hoãn trễ nải trong hắn như một mớ áo quần bề bộn, ngổn ngang, phải đùn đống vào một góc đợi chờ xử lý. Còn riêng hắn ngồi xuống với mớ tâm tình bấn loạn nhưng không, tóm lược tiếp những dòng về Anabaptist, những người mở đường cho phong trào liên minh thiên hạ... của kẻ mà "ai cũng biết là ai" đó. Harry Porter mà có hiện về, thì cũng coi hắn như phù thủy tập sự đi.

Tập sự ... âm thầm miên mật, nguyện cầu cho mọi cái chết xưa nay không là vô nghĩa. Cho mọi ao ước thiêng liêng nảy chồi nhựa sống, ngay nơi lầm trách, lầm hiểu, lầm than, khổ ải muôn vàn. Nếu ngài "Cầu Danh Bồ Tát" được cầu muôn kiếp để thành Phật Cười, thì hắn có ngại gì mà không cầu ra nước mắt, trân quý thay một danh gọi bất kỳ nào, của những ai đã ra đi để trở về, trong cuốn sách tử đạo này? Mỗi cái tên là một câu chuyện, một cuộc đời đã đi vào Tàng Kinh Các. Họ đi trong bước nhảy của thần Shiva, quay cuồng trong "quan" phòng "hành động" nơi Ngài ...

- - -

Chương 16: Về Truyền Thông (On with the Message)

Take heed, take heed to the Saviour's command!
March on, march on, proclaiming his love!
He said he would be with us and keep us unto the end of the world.
Go out, Go out into the world!
Go out and preach the Gospel!
Glory hallelujah to Jesus!
He saved our souls, he washed away our sins.
Let us proclaim to all the world his love!

Thông điệp này túm lấy tâm tôi, như thường lệ. Lời thánh ca vang lên lùa vào lá cỏ khô cuối năm. Tôi nghĩ về những quả bom chúng tôi vừa nghe thấy vài đêm trước. Lại nghĩ về những máy bắn súng tối tân, trực thăng bay ngay trên đầu cành, xe tăng và tất cả những vũ trang quân sự của trần gian này, cùng những lá cờ trắng...

Look, look at the condition of the sinner!
How sad it is! How filled with pain!
Without light, without peace he walks toward eternity and does not know the danger he is in!
Go out, go out, ambassadors of the Lord!
Search for the poor sinners. Make good use of the time the Lord gives you, because the day of salvation will soon be over!
Go out, go out into all the world! Go out and preach the Gospel!
Go out and follow your Saviour who goes before you...

Tôi biết rằng những thanh niên đang hát bài ca ấy, rất nhiều không đến từ những gia đình theo đạo Thiên Chúa, rất nhiều trong số họ là trẻ mồ côi. Số những cậu bé phải đi lính và đảo ngũ vì đức tin Thiên Chúa là rất nhiều. Họ sẽ trở lại phố phường và sống những lời ca ấy. Những người Anabaptist gửi đi những người đưa tin (Messengers) - người chia sẻ - những bồ câu đưa thư của đạo, mặc cho nhiệm vụ "truyền bá Phúc âm" (evangelism) chưa bao giờ khó khăn đến vậy. Một nhân chứng sống cho thời kỳ đầu ở Thụy Sĩ có viết:

"Bỗng nhiên, bao nhiêu người, tưởng như đang sẵn sàng cho một hành trình mới, phải bị trói thành hàng dài, diễu qua phố phường Zurich. Nơi họ đứng là giữa chợ trời, họ thuyết giáo một đời sống tốt đẹp hơn, sự hoán cải (conversion), tự do khỏi tội lỗi và tình anh em (brotherly love)."

Mỗi người đưa tin Anabaptist, nếu bị bắt, phải đối mặt với cực hình và cái chết. Không có con đường nào an toàn dành cho họ. Họ đi bộ, băng qua rừng, qua núi, qua đêm. Tất cả các nước Châu Âu cấm họ. Họ xuất điểm từ những nhà thờ bí mật với không, hoặc rất ít tiền, chẳng thể dựa vào đó mà duy trì đời sống. Nhưng họ vững tin kiên quyết làm chứng cho Ngôi Lời, bằng chính đời sống và việc làm của họ. Họ nói bằng cả sức mạnh từ Trời cao. Họ kêu gọi tất cả mọi người sám sửa, để trở về, quy hồi... từ những hư ảo/ vô thường(vanity) của trần gian, từ những tội lỗi và méo mó (wrenched) của đời. God đã ban phúc cho công việc này và nó được thực hiện trong vui mừng.

Những người đưa tin lên đường trong vui mừng, nhưng rất nhiều người không trở lại. Họ được gửi đi cứ hai người một, họ bỏ lại vợ con, hy vọng có thể gặp lại, nhưng không hẳn là nơi trần thế. Họ chỉ đơn giản đi đâu đó, mang tin gì đó, mà phải trả cái giá là mạng sống mình.

Chính quyền công giáo buộc tội tà vạy cho Josef Schlosser, một người đưa tin ở Poland năm 1579. "Nếu anh là người tốt, thì nên ở yên tại nước mình và để người khác được yên." Josef đáp: "Tôi không lừa ai. Chúng tôi đi khắp nơi để vâng theo lời yêu cầu của Christ, gọi người ta sám hối và giúp những ai muốn sống đời tốt hơn." Cơn đói tin mừng ở Poland khiến người ta yêu mến Josef, chính quyền phải giấu anh sau những nhà ngục, tuy vậy dòng người vẫn tìm đến nghe không ngớt ...

Làm đầy nhà của Chúa.

Hieronimus Kral, một người đưa tin khác chịu tù đày ở Austria cho đến khi áo quần anh đã mục hết cả. Chỉ còn lại cái cổ áo anh gửi cho bè bạn làm tin rằng anh còn sống, anh viết lên đó rằng: "Chúng ta được gửi đi không phải để làm hại hay làm thiệt (disadvantage) ai. Mà là để tìm kiếm cứu rỗi cho con người và cho họ con đường hoán cải."

Leonhard Dax, một mục sư chuyển thành Anabaptist, được gởi đi cùng vợ ông, Anna. Cùng Ludwig Dorker, Jakob Gabriel Binder, Jorg Schneider, Barbara, từ một Bruderhof mới ở Tawikovice gần Mahrisch-Kromau. Tất cả đều rơi vào tay chính quyền ở Alzey.

Chính quyền không ngớt chẳng thể ngăn những bồ câu đưa tin ấy. Năm 1603, sau nhiều năm bị đàn áp, tước đoạt, khiếp sợ trong cuộc cách mạng ở Hungary, những cộng đồng Anabaptist của nước ấy gửi sáu người đưa tin tới phía Đông Bắc Âu trên biển Baltic. Thuyền đi từ Denmark, họ bị bắt bởi tàu Thụy Điển và đưa về đó. Khó khăn lắm mới tới được nơi đã định (destination).

Dù được mời hay không, những người ấy đều nói như Klaus Felbinger, một người đưa tin miền nam German nói: "Chúng tôi không chỉ đến đất này mà tất cả những nơi nào mà ngôn ngữ của chúng tôi chạm tới. Chúng tôi có thể đi bất cứ đâu mà God mở cửa. Bất cứ đâu God dẫn đường, tới những trái tim nhiệt thành tìm kiếm Ngài và những ai đã chán đời vô đạo (ungodly life) ở trần gian. Chúng tôi đến với những ai ước ao cải tạo đời họ. "

(We go not only into this land but into all lands as far as our language extends. We go wherever God opens the door. We go wherever God opens a door. We go wherever God directs us to hearts who earnestly seek him and who are tired of the ungodly life of the world. We go to those who wish to amend their lives. To all such places we go and will go.)

Kaspar Braitmichel viết: "Bởi God Toàn Năng muốn dựng ngôi nhà của Ngài và khiến cộng đồng của Ngài tăng lên, Ngài luôn cung cấp ơn huệ để nhiều linh hồn hơn có thể tìm đường thoát khỏi những quốc độ tan hoang và bội giáo, mà vào trong tình anh em để bàn ăn của Ngài và nhà của ngài được tràn ngập."

(Since God the Almighty desired to build his house and cause his community to increase, he always provided a way of grace that more souls found their way out of desolate and apostate nations into the brotherhood so that the Lord's table and house were well filled.)

Càng phấn khởi trong Chúa (God/Shiva/Christ/Phật A Di Đà/Allah/Vô Lượng Quang), họ càng khát khao (desire) mang những linh hồn vào trong Liên Hiệp với Christ, và càng thậm tệ những khổ hình mà họ phải đối mặt. Martin Luther (một nhà cải cách tôn giáo nổi tiếng) gọi họ là Shwarmer (Swarmers) - đàn/bầy/đám (ong, kiến). Họ được gọi là bọn ký sinh, sâu bọ gây hại, gangsters, kẻ cướp.

Heinrich Bullinger, thư ký tòa ở Zurich báo cáo rằng: "Người ta chạy theo họ như thể họ là thánh sống. Sợ hãi, nể phục, nguyền rủa, dù thế nào thì cuộc vận động mang tên Anabaptist này, không ai có thể lờ đi được."

Wolfgang Capito, một lãnh đạo kháng cách (Protestant Leader) ở Strasbourg, viết năm 1527: "Tôi thẳng thắn thú nhận rằng tôi thấy trong hầu hết những người Anabaptist, lòng sùng mộ và sự hiến dâng. Sốt sắng (zealous) nhiệt tâm của họ vượt trên mọi hoài nghi về thành thực. Lợi lạc vật chất trần gian nào họ mong đạt được? Từ việc chịu những lưu đày ly hương, hành hạ, và trừng phạt không kể xiết về thể xác? Không phải bởi thiếu trí khôn mà họ có phần dửng dưng với những điều trần thế. Chỉ là bởi sự thôi thúc thiêng liêng trong họ."

(I frankly confess that in most Anabaptists piety and consecration my be seen. They are zealous beyond any suspicion of insincerity. What earthly advantage could they hope to gain by enduring exile, torture, and unspeakable punishment of the flesh? It is not because of a lack of wisdom that they are somewhat indifferent toward earthly things. It is because of their divine motivation.)

Những lính được chính quyền huy động để tiêu diệt Anabaptist là vô kể. Trong một báo cáo ở miền nam Germany, đầu tiên là 400 lính, rồi lên tới 1000. Cuối đoạn ghi chép của những anh em ở Moravia, có 2173 người bị tử hình vì niềm tin của họ: "Không ai có thể lấy ra khỏi tim họ điều mà họ đã trải qua... Ngọn lửa của God bùng lên trong họ. Họ thà chết một cái chết hung bạo nhất, thực tế, họ còn có thể chết mười lần nữa thay vì từ bỏ sự thật mà chính họ nguyện gắn kết. Họ uống suối nguồn sự sống của God và biết rằng God sẽ giúp họ vác thập tự, vượt qua mọi đắng cay của sự chết."

(No man was able to take out of their hearts what they had experienced ... The fire of God burned within them. They would rather die the most violent death, in fact they would have died ten times rather than forsake the truth to which they had married themselves. They drank from God's fountain of the water of life and knew that God would help them to bear the cross and overcome the bitterness of death.)

Berthold ở Schwabisch là một kẻ máu lạnh. Y đã ra lệnh thảm sát tất cả những ai bị bắt trong buổi gặp đầu năm mới ở Mantelhof năm 1531. Giữa năm 1530, y đã khoe khoang giết được ít nhất 40 bồ câu đưa tin Anabaptist, và 1200 kẻ theo "dị giáo" này. Nhưng God đã nói với y qua sinh mạng của những nạn nhân vô tội ấy. Y thấy những khuôn mặt họ khi họ chết và nghe những lời chứng (testimony), bao gồm cả của cậu bé  con ông xay lúa (the miller's son). Cuối cùng, sau một buổi hành quyết trước công chúng một người đưa tin tên là Onophrus Griesinger ở Brixen, miền nam Tyrol, y không thể chịu nổi nữa. Y hoán cải, đưa hai bàn tay lên trời và khóc xin được khoan dung. Bằng một giọng lớn cho tất cả những người xung quanh nghe được, y thề trước God sẽ không bao giờ "chạm" vào bất kì một Anabaptist nào nữa. Chiên con, Jesus Christ, đã thắng!

Ở đâu, hỡi sự chết, nọc độc của ngươi?

Johannes Faber, một thầy dòng tu Dominic ở Baden-Wurttemberg viết: "Bằng cách nào những người đó thật vui sướng và tự tin cam chịu nỗi đau chết chóc? Họ nhảy và múa trong lửa. Họ thấy những lưỡi gươm lóe sáng sẽ chặt đầu họ mà không mất can đảm, và họ vẫn nói, vẫn thuyết giảng cho người xem với những nụ cười lớn trên mặt họ. Họ hát thánh ca, những giai điệu cho đến khi hồn rời khỏi. Họ chết trong vui mừng, như thể trong một đoàn vui vẻ, mãi khỏe, chắc chắn, kiên định cho tới chết. Họ khăng khăng cố chấp, bướng bỉnh ngang ngược trong ý định, cũng bấp chấp, coi thường, từ chối nhượng bộ mọi nỗi đau và tra tấn."

(How does it happen that the Anabaptists so joyfully and confidently suffer the pain of death? They dance and jump into the flames. They see the flashing sword without dismay, and speak and preach to the spectators with big smiles on their faces. They sing psalms and hymns until their soul departs. They die with joy, as if they were in a merry company, remain strong, confident, and steadfast to their death. Persisting defiantly in their intention, they also defy all pain and torture.)

Khi Gotthard của Nonnenberg và Peter Kramer bị chặt đầu năm 1558, một bài ca ở Ausbund được viết: "Người ta ngạc nhiên. Chuyện gì vậy? Họ tự nguyện đi chết, dù họ có thể được tự do. Gotthard đáp: Chết chỉ đưa chúng tôi về trời nơi chúng tôi sẽ cùng với mọi con cái của God. Đây là hy vọng chắc chắn nhất, vì vậy chúng tôi bước vào cửa tử với niềm vui!"
 

- - -

March 2019

Nguồn gốc Thiêng Liêng của sự sống là Tình Yêu Thiêng Liêng.

Tình Yêu Thiêng Liêng khai sinh ra sự sống mới - được gọi chung cho tất cả thế hệ là: Con Cháu của Đấng Chí Cao, tất cả đều mang Chủng Mầm Thiêng Liêng.

Vun bồi, chăm sóc, nấng nuôi, giáo dưỡng sự sống cho Sinh Mệnh Thiêng Liêng bằng Tình Thương Thiêng Liêng vô bờ bến, miệt mài ròng rã suốt dài theo năm tháng, thời gian là bất tận... trải qua vô lượng vô biên "kiếp" sống cho đến khi nào, Sinh Mệnh Thiêng Liêng thực sự Trưởng Thành Sự Sống Thiêng Liêng, đủ mọi khả năng Làm Chủ Đời Sống Thiêng Liêng của chính mình!

Mục tiêu của sự sống nơi tất cả Thế Giới trong Đại Vũ Trụ Vô Biên, không gì khác hơn là nhằm tạo nên môi trường cho Sinh Mệnh trải nghiệm sự sống, tiến hóa nhận thức, có ý thức nhận biết rõ ràng, dần có được và dần BIẾT NỖ LỰC không ngừng nghỉ.

Tự giác - giác tha có nghĩa là không chờ đợi ai nhắc nhở, quở phạt... mà vẫn luôn tự lực tìm tòi học hỏi tối đa trong khả năng mình có thể, để ngày càng tăng trưởng Tình Thương của chính mình thêm ngày mỗi lớn lao hơn, sáng suốt hơn, bảo đảm được sự đúng đắn, chân xác, toàn thuận với Luật Tự Nhiên Bất Biến, khế hợp tương hòa với Vĩnh Hằng toàn triệt!

Tiến hóa là quá trình lâu dài vô tận của sự trưởng thành nhận thức đúng đắn về Tình Thương ở cả lý thuyết lẫn thực hành cho một Sinh Mệnh Sống trong Vũ Trụ, cho đến khi nào, từng ý - ngôn - hành đạt đến sự thuận hợp toàn bích với Quy Luật Tự Nhiên.

Khi Trạng Thái Tình Thương của Sinh Mệnh (TÂM) đã được Trưởng Thành trong Sự Sống Thiêng Liêng thì Sinh Mệnh Tiến Hóa mới có đủ tư cách bước vào Lĩnh Vực Tình Yêu Thiêng Liêng, để rồi sẽ trở thành Nguồn Gốc Thiêng Liêng cho các hình thái sự sống mới tiếp theo!

>>> SỰ SỐNG VIÊN VẸN ĐỦ ĐẦY TẤT CẢ KHẢ NĂNG SÁNG TẠO, Kiến Lập nên các Hình Thái Vũ Trụ Mới với tư cách là Cha Mẹ Tạo Hóa Thiêng Liêng, Thai Sinh ra Đứa Con Tinh Thần Thiêng Liêng - Cấp Độ Vũ Trụ TRONG TÌNH YÊU THIÊNG LIÊNG Tinh Khiết, Đơn Thuần, Vô Tư, Trong Sáng, Toàn Thiện, Trọn Lành, Thập Thành, Thập Mỹ, Hoàn Hảo Vô Khuyết!

October 2019

Kể từ thơ bé ngây ngô,
Thẳm sâu vốn đã là Thơ, là Tình!
Hồn nhiên tự tính Thiên sinh,
Yêu rừng, yêu núi... Biển Tình Vô Biên!
Tung tăng đồng ruộng, đê triền...
Hòa mình cùng với Thiên Nhiên Tự Tình!
Kiếp người trong Bể phù sinh,
Biết bao giông bão thế tình lịch qua...!
Nỗi niềm... thống khổ... kinh qua,
Trưởng thành phẩm tính, Nhân là Chính Nhân!
Tình Trời Tình Đất Vuông Tròn,
Nhận ra, thấm đẫm Công Ơn Sanh Thành!
Tổ Tiên Nguồn Cội Thiên Thanh,
Là Trời, là Phật, Trọn Lành, Vô Biên!
Nhận ra Nguồn Cội Chơn Miền,
Lần theo Tiên Tổ Thiêng Liêng, TRỞ VỀ!
Nơi đây nào phải Chân Quê,
Nơi đây chốn cõi Đi Về mà thôi!
Tâm Linh khi Thức Tỉnh rồi,
Không còn vương luyến chốn nơi Gian Trần!
Đương còn trong xác trong thân,
Chỉ là để Sống Chứng Nhân Thiên Tình!
Giản đơn một mảnh vườn xinh...
Cháo rau qua bữa... mà Tình vô biên!
Của cải là thứ gông xiềng,
Lợi danh là thứ đảo điên tình đời!
Tình trần đem thả chết trôi,
Đời trần một chuyến đến rồi, lại đi!
Nhị Nguyên huyền huyễn biến di,
Nhất Nguyên bất biến duyên tùy tương duyên!
Vô thường tự thể đa nguyên,
Hằng thường Bất Nhị Uyên Nguyên Nhất Tình!
Thân Trần không khác chúng sinh,
Tâm Trần tự huyễn mị tình đa đoan,
Trí Trần điên đảo hoang đàng,
Thân Tâm Trí ấy, Trần Gian, Không Mình!
Chính Mình nơi cội Nguồn Linh,
Chính Mình chẳng thuộc thế tình trần gian!
Chính Mình Quê Chốn Thiên Đàng,
Chính Mình Chân Thể Niết Bàn Vô Ưu!
Màn che Tâm Thức mịt mù,
Vén ra khắc tỏ đường tu Chính Mình!
Trôi lăn Lục Đạo Phù Sinh...
Trưởng Thành Linh Tự Biết Mình Không Ta!

https://thuvienhoasen.org/a28753/4-phat-tam-bo-de

Lâm Như Tạng

I-BỒ-ĐỀ LÀ GÌ ?

Tiếng Pãli : bodhi. Dịch là Tri, Đạo, Giác, Trí. Nói theo nghĩa rộng Bồ Đề là Trí Tuệ đoạn tuyệt phiền não thế gian mà thành tựu Niết Bàn. Tức là Trí Giác Ngộ mà Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn đã đạt được ở qủa vị của các Ngài. Trong các loại Bồ Đề nầy, Bồ Đề của Phật là rốt ráo tột bậc, nên gọi là A nậu đa la tam miệu tam Bồ Đề dịch là Vô thượng chánh đẳng chánh giác, Vô thượng chánh biến trí, Vô thượng chính chân đạo, Vô thượng Bồ Đề.

Sau khi thành Phật, Đức Thích Ca có giải rằng ngài có đủ ba thể Bồ Đề:

1- Ứng Hóa Phật Bồ Đề: tức là thể Bồ Đề hiện lại trong đời Ngài làm Thái Tử Tất Đạt Đa mà tu hành.

2- Báo Phật Bồ Đề: tức là thể Bồ Đề mà Ngài tự tạo ra nhờ các điều lành, các sự tu học trong những đời trước.

3- Pháp Phật Bồ Đề: tức là thể chơn như đã có nơi Ngài tự bao giờ, nó vẫn thường trụ nơi các chúng sanh. Đó là Tam Bồ Đề hay là Tam Phật Bồ Đề.

Ngoài ra Bồ Đề còn có nghĩa thông thường là thông suốt và Giác Ngộ. Nhưng cảnh sở thông và sở giác có hai Pháp.

Một là: Cắt đứt phiền não chướng mà được Nhất thiết trí của Niết Bàn, đó là Bồ Đề của Tam Thừa (Thinh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát).

Hai là: Cắt đứt được Sở tri chướng mà được Nhất thiết chủng trí biết tất cả các Pháp, đó là Bồ Đề của riêng Phật.

Bồ Đề của Phật gồm Nhất thiết trí và Nhất thiết chủng trí cho nên gọi là Đại Bồ Đề.

II-NHỮNG KINH NÓI VỀ BỒ-ĐỀ

1-KINH PHÁP HOA, PHẨM NHƯ LAI THỌ LƯỢNG

Kinh có ghi : “Ta thực thành Phật đến nay đã vô lượng vô biên kiếp”. Đó là nói về Báo Phật Bồ Đề, thập địa viên mãn, chứng được Niết Bàn chân thường.

Pháp Phật Bồ Đề, Như lai tạng tính vốn là thanh tịnh, chúng sanh giới tức Niết Bàn Giới. Điều mà kinh nói: “Như Lai thấy biết tướng của ba giới đúng như thực, chứ không như Tam Giới thấy tam giới” chính là nghĩa ấy.



No comments:

Post a Comment