Wednesday, June 24, 2026

C104: Song Ngư Tâm Vật

Tâm (âm) và Vật (dương)

Tâm và Vật 
 
LUÔN LUÔN cùng lúc vướng vào lưới trời lồng lộng, như Song Ngư đang trong cái lưới sinh tử - thời gian, không gian hạn định. Chúng dãy dụa, quẫy quả, cố gắng thoát khỏi chiếc lưới đáng ghét này! Kẻ nào đã thả lưới? Ai tạo nên chiếc lưới? Tàn nhẫn vậy?!
 
Rồi Tâm và Vật bắt đầu ngoi ngóp thở trong lúc chờ đợi số phận được định đoạt cho chúng.
 
Tâm: Tại sao ta lại vô dụng với chính mình như vậy? Ta bơi lội cả ngày, rốt cuộc cũng không biết để làm gì. Giờ đây mắc vào lưới rồi cũng chẳng biết sẽ về đâu. 
 
Vật: Về đâu thì về quan trọng gì. Miễn là vẫn có vây để bơi, có thứ để ăn, có nước để sống.
Tâm: Nhỡ mình không sống mà sẽ chết thì sao?
 
Vật: Nghĩ nhiều thế làm gì? Cứ chill được đến đâu hay đến đấy. Quẫy khi nào không còn lực nữa thì thôi. 
 
Tâm: Ta mệt rồi. Định mệnh của loài cá chỉ là vậy? Phải có gì đó hơn việc bơi và quẫy, ăn và chết chứ?!
 
Vật: Ơ hay, được bơi là sướng rồi, còn phải lăn tăn to tát cãi nỗi gì nhỉ? Cha sinh mẹ đẻ thế nào thì chấp nhận thế đó, rồi mà sống mà sinh, kế tiếp cho đời sau giống nòi cũng được sinh sống sung sướng như vầy thôi.
 
Tâm: Không! Mọi chuyện đều có mục đích cả. Ta phải tìm cho được cái mục đích ấy để thỏa mãn tâm nguyện tìm kiếm này. Sống đối với ta không thể chỉ là lối mòn non nước ngàn đời không đổi! Nhất định phải có một cái đích khác để đến.
 
Vật: Lắm chuyện! Ngay chốc nữa biết đâu toi đời nhà ma rồi, làm mồi cho kẻ khác thì tha hồ mà minh triết. Thôi cố gắng quẫy tiếp đi may ra thoát khỏi chiếc lưới vô minh này. 
 
Tâm: Có quẫy nữa, quẫy mãi cũng vậy thôi. Dù có thoát lưới này thì đời con đời cháu ta cũng không chắc sẽ thoát. Và cứ vậy luân hồi kiếp cá, vô nghĩa mà thôi.
 
Vật: Trời sinh non nước, trời sinh ra cá. Đã vậy thì lên trời hỏi non nước để làm gì? Cá để làm gì?
 
Tâm: Non nước để cho cá chu du lặn lội, còn cá để cho người ta bắt vào lưới... 
 
Vật: Cá để cho muôn loài bắt mà ăn!
 
Tâm: Vậy muôn loài được tạo ra để làm gì? Chẳng nhẽ chỉ để ăn cá?
 
Vật: Hỏi mãi làm gì, cá còn chưa lo nổi mình cá mà lo chuyện muôn loài chi?
 
Tâm: Quả thật đời cá là bể khổ! Khóc cũng không nên tiếng, chết cũng chỉ ngáp ngáp chứ chẳng được lời chăng trối nào... Cá độ muôn loài, cho muôn loài có cái ăn. Vậy là hết một đời!
 
Vật: Được vậy là tốt lắm rồi. Vậy là tìm thấy sứ mệnh của giống loài rồi, cao cả thế còn gì hơn nữa?
 
Đến đây, một con rùa bơi tới đớp một miếng thịt trên mình cá. VẬT kêu lên đau đớn: Lạy Cha! Sao Cha cho con rùa này đến đớp con.
 
Tâm đau đớn mà chẳng thể làm gì cho Vật. Nhìn chính mình cũng đang bị kéo lên bởi người đánh cá. Nó giương mắt thao láo nhìn không chớp kẻ sẽ lấy đi sinh mạng này để làm đồ nhậu một bữa no lòng. Cả đời nó bơi lội mấy mùa trăng, vậy là đủ mãn nguyện?! Nó nghe thấy tim phổi ruột gan lòng vòng tuồn tuột bị móc ra và quăng đi như thứ thừa thãi rác rưởi. Nó vẫn mở mắt thao láo nhìn trời mây, chưa bao giờ nó thấy bầu trời tuyệt đẹp trong veo đến vậy. Nó quẫy vài cái nữa theo quán tính cơ thể, định bơi đi... nhưng kỳ lạ thay không phải là bơi trong nước mà là trong không khí. TÂM linh đã thoát khỏi xác cá, tự do bơi vào vô hạn để hiểu thêm về những câu hỏi trong chiếc lưới của thời gian.
 
TÂM và VẬT (Song Ngư) cùng chết, chúng được hóa kiếp về Trời. Xác cá trở thành vô lượng tế bào, chuyển thành nặng lượng sống cho người ăn. Năng lượng lại chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác. Vậy là trong người có cá, trong muôn loài có cá, thậm chí trong đất đai đồng ruộng, cũng có xương cá phân tán khắp cùng... 
 
Cá hoàn tất chuyến du ngoạn khắp cùng Thiên Hạ của nó, linh tính nó mách bảo điều gì, điều gì là vô song "sắc", siêu linh. Là thanh thiên bướm, lụa tình nguyên sơ. Từ hai vây Cá mọc ra đôi cánh như bướm lượn cá lững lờ bay... trong mây lụa tình trời. Đơn sơ mà bồng lai siêu tuyệt.
 
Bỗng! Một làn sóng vô hình mà dồn dập dữ liệu ập tới không biết từ cõi nào phương nao? Đánh một đường cắt thẳng băng qua dải lụa hồn cá đang tiêu dao mây khói. Đây chính là sóng EMF danh bất hư truyền, là Bí thuật cao cấp nhất của thiên đình, nay phổ cập cho hạ giới sử dụng thời kỳ quá độ kỷ Song Ngư tiến lên Bảo Bình kỳ.

C103: Lúa Ngô Khoai Sắn

 :) Bắt đầu viết những dòng này mà cứ phải tủm tỉm cười mãi vì sự tình hài hước sau tất cả những bi kịch dài đằng đẵng.

Bởi cuộc đời là đại ảo mộng. Một trăm hay một ngàn cuộc đời cộng lại cũng vẫn là con số mộng to đùng. Mà cả trần gian này được giăng mắc bằng những lớp mộng cảnh đan xen như sóng vỗ. Mộng mà! Mộng cảnh đan xen vô số, làm sao giải nghĩa, cắt đoạn hết ra cho được?!

Mình cứ tưởng mình mình là một ngã thể. Nhưng biết đầu mình chỉ là một cái nhánh thể của một cây to. Mà đời có bao nhiêu cây to chi thể? Bao nhánh cộng lại mới đếm đủ thành một cây toàn bộ. Cây ... đa ... tình!

Vụ thần lôi sét đánh 81 lần, cũng đại diện cho 81 lần trúng tiếng sét "ái tình" nơi phàm thể trần gian. Một "cây đa tình" phải trúng đủ 81 lần như vậy... chết đi sống lại đau đớn như vậy thì mới qua ải đoạn trường. 81 lần phải phân chia đều ra cho 81 nhánh cây, 81 hình hài, 81 thân phận, 81 câu chuyện ... cùng một lúc kể, thì mới hết. Chứ dồn cả vào một đứa thì đặng sao nổi?!

:) Chuyện về Osiris và Iris, xa xưa lâu lắm rồi.

Chuyện về Babaji và Lahiri, cũng mới hòm hòm lâu thôi.

Mộng cảnh đan xen, tạo lập bởi vô số chi tiết. Nghĩ cũng buồn cười lắm ấy!

Ngồ ngộ ra, đời này mình đã dành quá nửa để mê thật. Người phàm có mốt tắm bùn để dưỡng da, tắm tiên để chụp ảnh. Mình vô hạ giới cũng mê man mà nhảy tùm vào bùn lầy ngã dục, cũng chụp ảnh đăng cõi A Còng... để tiên cảnh mĩ miều gì cũng cho lên cuộc ảo.

Những sự lầy lội, ngu mê không hồi kết trong miên trường miền ảo này ... đến một lúc ai ai nhìn lại cũng chợt bật cười. Giết chóc tru hại nhau chỉ vì những ảo mộng man hoang.

- - -

Rồi lại phải tìm những cái tên, danh gọi thật kêu để đặt cho những ấu thơ xây dựng tiếp mơ ước kỳ cùng ...

(: Biết đâu, cái ảo mộng đời mình có liên quan đến Mỹ cảnh Thiên quốc, lại bắt nguồn từ lâu. Rose Lima - vị thánh nữ tu khổ hạnh ở Peru, quả thực là trái ngược hoàn toàn với kẻ theo "khoái lạc giáo" độn ngu lần này. :)

Biết đâu thằng "Khoai" nhà mình, hồn nó lại có chàng là "thân phụ" ly kì khủng bố. Thằng Khoai nó lại về vườn này để tập sự nhổ cỏ, chăn gà, cuốc đất với bố ruột nó, để học thổ ngữ quê người. Bố nó đời nọ làm đại bàng, đời này làm gà lôi, tha lôi nó đi khắp đọ. Rồi sau này nó lớn, nó bỗng nhớ ra bố nuôi phượng hoàng kiếp ... Tiền kiếp, nó từng làm cái gì mà to tát, đọc lại tự truyện Yogananda mà nước mắt lưng tròng. Truyện lại còn lồng truyện ... cho dài thêm chương viết .... Đồ khôn lỏi!

:) Kiếp trước nó "tổng tài" thiền định kiểu gì, mà giờ lọt lòng sinh lại, nó chẳng kiên nhẫn gì cả. NÓNG + VỘI chưa từng thấy! Chưa kịp lấy cho hớp nước là kêu khóc, không đúng ý một cái là dãy dụa. Giữa giờ ngủ tỉnh giấc, bất kể là giữa đêm hay giờ nào, cũng gào lên ăn vạ, đòi lên lưng địu đi ra ngoài hóng gió mới ngủ lại cho. Ngủ mà chưa sâu đã dám hạ xuống giường là hoàng thượng lại tỉnh giấc, lại phải đi tuần "hành" lại từ đầu. Những tưởng chưa có đứa trẻ nào khó nuôi như vậy. Mẹ nó cũng vạ lây: "con hư tại mẹ"!

Bất cứ lúc nào cũng đòi ra ngoài chơi, không thích ở yên trong nhà một lúc nào. Giữa trưa nắng hầm hập cũng phải lao ra bằng được, y như bố nó, phải giữa trưa bổ củi thì mới luyện đủ "dương công". Không mở cửa cho ra thì gào khóc cả tiếng đồng hồ đến phát nôn phát ọe, ho lên sù sụ. Một khi đã khó ở, khó chịu trong người thì làm kiểu gì cũng vẫn khóc, vẫn đành đạch. Tự lập? Tự thân lập thành đại đạo kiểu gì mà rời cái ti mẹ ra một cái là khóc. Rời cái lưng bố ra một cái là đòi ... như lên cơn nghiện. Cả nhà phải quay cuồng cung phụng nó đến hao gầy. Còn nó thì chuyên cắn mẹ để "thể hiện tình cảm". Đã bảo là đau rồi mà cứ ra sức cắn đến hằn cả vết răng lên, tím cả máu bầm. Chuyên dẫm lên ngón chân đau gãy của bố để gợi đòn. Còn chuyên la hét. Ở ngoài trời thì không hét, hễ ở trong nhà là hét váng cả nhà, váng cả đầu. Người lớn đang nói chuyện hay làm việc mà mình không được chú ý là chạy quanh gân cổ lên la hét. Chưa kịp theo yêu cầu cũng hét lên như sư tử con gầm gào ra lệnh.

Chưa kể, biết sai mà vẫn cứ làm. Bảo không ném các thứ lung tung thì cứ ném. Chủ kiến chính kiến đầy mình! Muốn chỉ, dạy cho cách làm bất cứ điều gì cũng không nghe, không cần, không khiến, chỉ muốn tự! Bướng, lì, nóng, vội - Toàn những tính xấu nhất của bố mẹ thì học. Đòi gì cũng nằng nặc bằng được mới thôi. Lúc nào cũng lấy nước mắt long lanh và giọng khóc vang nhà ra để dọa. Bố đang ngủ cũng không để yên, phải la hét, lôi kéo dậy bằng được để chơi cùng. Không khác gì ông tướng, giặc cỏ. Chỉ vì được cái nụ cười hào hoa mà không bị ăn đòn.

Số kiếp tử vi ngày xưa cha mẹ cắt, tự tay Yogananda đốt bỏ, vì có đoạn tiên tri nói: lấy ba vợ thì hai vợ mất sớm. Trùng hợp là kiếp này thằng Khoai nhà mình nó cũng đào hoa nở rộ trong cung nhà 7 - phối ngẫu hay quan hệ cá nhân. Nó phải "đi tu" là cái chắc! Rồi nó còn có mặt trăng chiếu sáng nơi bạn bè, đồng cộng... Nó lại có mặt trời ngụ luôn chân ngã, là cung mệnh, mệnh cư phu thê - nhà 7 luôn mới sợ. :)) Liệu nó sẽ lại tự tay đốt bỏ lá số mà mẹ nó cắt cho, xem mãi mới tỏ!?

- - -

Tự nhiên có bà Nepal xuất hiện, là vì mấy tháng trước mình cứ niệm ý nghi ngờ, thách thức mãi rằng:

Mình và Chàng mà là hai vị tổ đùng tổ đoàng đó?

Khó mà tin nổi. Ví như: đang cực khổ bốc mùi lao công dọn vệ sinh đường phố, mà bỗng tự xưng mình là thần tiên hạ phàm độ kiếp vậy! Phải có bằng chứng, hay dấu hiệu gì cụ thể chứ. Phải có Chứng Thực, chứng minh hay chứng tỏ gì đó liên quan thể hiện cho mình chứ. Ba…ba…ji mà siêu phàm trác tuyệt vậy, La...ri... hi hữu vậy, ... thì đời này kiếp này phải "gọi" hay "thuyên chuyển" được chứ. Nếu không thì mình sao dám vĩ cuồng nhận vơ, ảo cảm ảo tưởng bấy lâu rày!

Vừa nghĩ xong chẳng lâu, thì bố nó lên Face lướt Intentional Community thấy bà Nepal này mời cộng đồng. Mà bà ấy không quên tiết lộ khi chat, là bà tham gia hiệp hội do Yoganada gây dựng ở Ranchi. Một năm bà đến Yogoda Satshanga Society ở India một lần. Visa 5 tháng là hết hạn, cứ 5 tháng phải ra khỏi biên giới Nepal, thì tiện thể đi Yogoda cách đó có nửa ngày đường. D đã đương hỏi han nhiều điều. Mà mình vẫn ngu lì, còn đểu giả mượn danh, nhắn cho bà ấy là "còn phải suy nghĩ nhiều vì tính khả thi, vì visa khó nhọc, đường xá xa xôi, tiền bạc túng thiếu." Chính mình, là chính mình phụ bạc, khinh khi tình trời!

Lại không thể không run run trong lòng, vì ông trời cứ dụ khị mình phải tín mê cái sự gì là kỳ dị phi thường cõi!

:) Hảo mộng!


Giả như, thằng Khoai, nó lại tìm được vị thầy là ông "Ngô" nào đó - sư phụ cũng là cha, là mẹ nó từ tận muôn đời, mừng đến nửa khóc nửa cười trong mộng ...

Quê hương nó là Mỹ Chân hay Siêu Việt nọ này? Ông Ngô râu tóc bạc phơ, lại mừng đến rơi lệ, khi cha Trời mẹ Đất, cùng gặt lúa trần gian... mà mang về sàng sảy, nghiền say thành bột, trộn vào bánh ngô, mà làm nên lương thần mĩ vị ... lương thực thiên quốc! Mỗi hạt lúa là một linh hồn ...  đã hong phơi dưới nắng mặt trời.

Mĩ lệ mà Diễm hằng, đến nỗi tưởng đâu là mộng ảo!

- - -

Lại quay về tiếp tục dọn vệ sinh cuộc mộng, gặm nhấm cơn mê trong Tây Du Ký hồi 67:

CỨU VỚT ĐÀ LA THIỀN TÍNH VỮNG
THOÁT LÌA Ô UẾ ĐẠO TÂM TRONG

- - -


Public cái cơ sự bí tình này vì mọi sự bí mật đều là công khai dưới ánh mặt trời. 

Chư vị xem đây là mộng ảo hay vui đùa cũng tùy nghi.

 


 




C102: Từ sơ sinh đến tiên sinh

C102: Từ sơ sinh đến tiên sinh

Mèn ơi! 

Hắn thầm tự nhủ, cố gắng trấn tĩnh, bình ổn lại cái bản thể linh hồn sơ sinh ấy. Thể xác - Tình cảm - Tâm Trí hắn thảy đều đang run rẩy, lúng túng, gọi là đại chấn tinh thần thì cũng đúng.

Từ thủa cha sinh mẹ đẻ đến giờ, đây là lần thứ hai hắn có cảm tưởng như vậy. Lần thứ nhất là khi đọc cuốn truyện dài về Phật Thích Ca năm 18 tuổi hồng trần. Lần thứ hai này đã 31 tuổi trần, cũng là vừa đọc "lướt" qua thôi, mới chỉ là "lướt" thôi mà đã như vậy ... một pho sách mà người viết (Baird T. Spalding) đặt tên là: "Life and teaching of the Masters of the Far East".

Nguyên Phong "phóng tác" dịch phẩm "Hành Trình Về Phương Đông" dựa theo pho sách gốc này. Ví như là: Múc một bát cháo ra từ một nồi cháo siêu to khổng lồ... để gieo duyên cho người đọc tự tìm hiểu thêm nếu thèm.

Cái tính phàm ăn của hắn thì đâu tránh khỏi. Lập tức gọi đàn em, ngang nhiên dọa nạt, đòi thêm viện trợ ngân sách. Và người em quý báu của hắn đã lập tức gửi đến qua bưu điện pho sách gốc được viết bằng tiếng Anh này. Tiếng anh hay tiếng em gì, một khi đã quyết chí thì đều có thể hiểu. Vậy là hắn đảo tung nồi cháo, để tìm ra những tương đồng và dị biệt với bát cháo Nguyên Phong múc. Quả thực, rất nhiều dị biệt, cũng vô số tương đồng. Chỉ là một bát cháo thôi mà còn chưa tiêu hóa hết, thì người đọc ăn làm sao hết cả một nồi. Có lẽ Nguyên Phong đã lường sẵn vậy.

Khi gõ những dòng này, tay hắn vẫn run run, cả người run lên như vừa bị "bội thực" tâm hồn vậy. Tiếc thay tinh thần thì không thể bị bội thực như thể xác được. Nói vậy cũng là hơi quá lời...

(Giữa trưa nắng chủ tù đang lao động khổ sai ngoài trời, thì nhận được tin nhắn của bà đưa thư, gọi ra lấy gói hàng to không vừa hòm thư công cộng. Lão vội bê cả Khoai lên xe phi ra lấy hàng. Tưởng là hàng gì, hóa ra là hàng sách. Về đến nhà lão đương định trách bạn tù sao không hỏi ý trước khi mua. May thay bạn tù khai không phải mua mà là được tặng. Còn phải nói mãi là sách này xịn, không phải sách đểu, nói về Jesus Christ, thì lão mới chấp nhận cho đọc, thay vì đốt.)

- - -

Nếu không đọc "Tự truyện của một Yogi" thì có lẽ cũng không có những mấu chốt "chứng cớ" người thật việc thật, mà liên hệ với "Hành Trình Về Phương Đông" để tin rằng tất cả những sự ấy không phải là hư cấu, huyễn hoặc.

Tiên khí, linh lực trong pho sách này mạnh đến nỗi, kẻ tầm thường nhìn vào quả thực tưởng là loại tầm thường vớ vẩn. Giá bán cũng rất xoàng xĩnh, bìa sách cũng không có gì là ấn tượng, tên sách lại càng "không kêu". Nhưng kiểu thần tiên dị truyện này, đối với A Đường thì quả là ...

Hắn còn đương run run sờ từng trang giấy, không biết có thể thực sự tiêu hóa hết nồi cháo tiên cốt ấy. Không biết với tu vi hèn mọn của hắn hiện thời liệu có thể làm gì sau khi tiêu hóa xong, ngoài việc tiêu chảy ...

Mặc kệ, những suy nghĩ lo sợ thường trực, ngày sau phải nghiêm túc xem chừng.

Sách quý tại nhân gian rất nhiều, nhưng "Tiên Thiên Ký Sự" từ Thượng Giới chính chuyên chuyển lời là rất hiếm. Không phải nhái phẩm bịa truyện ta bà ở trần gian... mà nay được phổ cập đại trà như vậy, quả thực là không nhiều.

Hắn gấp gáp hít một hơi thở sâu, như vừa từ trong cuốn tiểu thuyết ngụy tạo bước ra, lại bước tới một pho Tiên Thư Kỳ Vĩ mà ... chẳng biết phải làm gì.

Mắt mũi mồm tay chân đều lóng ngóng, luống cuống hết cả lên, như là hắn biết số phận ảo mộng của hắn sẽ sắp bước vào hồi chuyển đổi. Liệu hắn có thể diện kiến "Xuân Tóc Đỏ" và những vị tiên nhân chân thực trên núi tuyết? Liệu mọi con đường hắn đã và sẽ đi qua, là đường Tình Vô Hạn? Không ai biết ngoài chính hắn.

"Xuân Tóc Đỏ" đang ở đâu? Liệu lần tới Ngài sẽ "biến" ra cả một tòa "Lâu Đài Tình Ái" giữa trần gian này? Hay chỉ là một mái nhà tranh đơn sơ giữa hồn thiêng non nước? Hay chỉ là một túp lều tạm nơi sa mạc hoang vu? Và Tiên Chúng vây quanh Ngài là thực tại ảo hay xác hồn chân thật?!

... Định mệnh của A Đường và cả quả địa cầu này có phải là tan biến?

... Hắn mơ về những tầng trời, như con ốc sên mơ một ngày bò ra khỏi vỏ.

... Hắn mơ về những tầng người, như trẻ thơ khóc cười bất chợt.

... Hắn làm mặt quỷ, mặt cau, nhăn mày, láo liếc ... đủ mọi loại nét mặt sinh động biểu tình cảm xúc nơi nhân cõi. Để thấy rằng chính hắn đang sống thật, chứ không phải là một cái xác vô hồn.

... Sơ sinh hay Tiên sinh? Cõi người!

Không biết, không thể biết trước được tương lai đó... Hắn chỉ có thể ngồi với nồi cháo nóng hổi nghi ngút hương tiên. Sublime như vậy! Không biết gì hơn ngoài run rẩy linh hồn.


(Chợt nhớ, cách xưng hô "Tiên sinh" và "Vãn sinh" của Tàu quả thực không khựa tí nào, quả thực rất thâm nho ngọt lịm, trang trọng mà hòa ái vô cùng. Tiên là đầu tiên, trước đó. Vãn là sau đó, sau cùng. Đầu tiên hay sau cùng vốn là vô tận. Như vậy thì đúng là Đạo rồi.)

P/S: Xuân Tóc Đỏ là nhân vật trong tiểu thuyết "Số Đỏ" của Vũ Trọng Phụng. Đây là tác phẩm của người phàm, viết ở trần gian, nên nhuốm màu phàm tục. Trái ngược hẳn với "Xuân Tóc Đỏ" vị được nhắc tới trong Thần Tiên truyện này. Quả thực danh - sắc không phải là chân tính con người.
       


PDF: 

Hành Trình Về Phương Đông

https://drive.google.com/file/d/190CTHEX_wq0f0Yq79n0XOWqWtsIEHNNt/view?usp=sharing

Tự Truyện Của Một Yogi

https://drive.google.com/file/d/1gPRJCiqsPBjy7a0iGh57IwEjrIjxX2MD/view?usp=sharing

C101: Thân Nhân Quả

C101: Thân Nhân Quả

Nếu coi mọi điều xảy đến, mọi cuộc hội ngộ của đời người là do Nhân Quả - Máy Trời tự động sắp đặt. Thì có phải hay không?  Việc Jesus bị đóng đinh hay một ai đó thiện lương bị chặt đầu, cũng là do "Nghiệp" tự tạo mà thành? Có thể họ đã làm điều xấu ác trong một tiền kiếp xa lắc xa lơ nào? ...

Nếu con người cũng như Cây cỏ, mưa nắng trời ban công bằng. Cây cỏ ngã đổ, rạp đi trong giông bão, hay chết khô chết héo trong cằn cỗi bao mùa. Thì cũng là do "nghiệp" nhân quả của Cây hay sao?

Những thuận và nghịch duyên cứ theo nhau như nắng mưa luân chuyển. A Đường ngồi một chỗ mà xem về người mù sáng tạo chữ nổi cho người mù đọc (
Louis Braille), hay người điếc (Beethoven) soạn nhạc giao hưởng thính phòng cho người thính nghe. Bao tấm gương sống truyền cảm hứng tích cực, bao câu chuyện ý nghĩa. Nhưng nỗi sợ hãi về Nhân Quả Luật cứ lảng vảng trong đầu hắn. Có ai đó nói: Nếu bắt một kẻ phải trả mọi quả ác mà y đã vô tình hay cố ý gây tạo, chỉ trong một đời một kiếp phải lãnh nhận tất cả những ác báo ấy. Thì hắn ắt sẽ không thể sống nổi!

Ngộ nhỡ, vị chủ tù bên hắn kiếp này là lão cao đồ ngu xuẩn năm nào, phạm tội "phá hòa hợp tăng"...
Ngộ nhỡ, quản tù ấy trong một lần cay đắng tàn bạo mà đã moi tim người sống để "tế lên người chết"...
Ngộ nhỡ, kẻ ngu đạo ấy chính là kẻ đã thẳng tay thiến đi thể xác và linh hồn của "một bậc thầy" ...
Đã bẻ cánh uyên ương, chia lìa tình ...
Đã nhạo báng khinh thường lòng tin của kẻ khác!?

Mèn ơi. Nếu kẻ ấy phải trả tất cả những nhân xấu của mình chỉ trong một đời...?!

A Đường không phải là Trời, không thể tự cho mình cái quyền "thay trời hành Đạo". Và lại, mọi sự suy diễn trong hắn biết đâu là thật, đâu là giả. Hắn một đời nghĩ xem làm cách nào để "thiến" đi mọi dục vọng, mê cuồng, hồng trần trong mình.

Rồi chợt vỡ lẽ rằng mọi sự dữ tợn kể cả trong suy nghĩ ấy, đều là ác hạnh. Nếu người ta có thể nhẹ nhàng mà sống với nhau, thì đâu đến nỗi phải "mắt đền mắt, tay đền tay", cắt bỏ, tổn thương bất cứ sự gì mục ruỗng, thối tha nào .. Chết chóc khổ đau nào chạm tới Thiên đàng?

Lầm than!

- - - - - - - - - - - - - - - - - - - -

Lời khấn nguyện

Kính lạy Mười phương Phật

Kính lạy Mười phương Pháp

Kính lạy Mười phương Tăng

Xin chứng giám lòng con

Với tất cả tâm thành

Dâng lên lời khấn nguyện


Xin cho con mãi mãi

Lòng tôn kính vô biên

Hơn núi biển mông mênh

Dâng lên Mười phương Phật

-

Xin cho con mãi mãi

Lòng thương yêu không cùng

Trải thế giới tam thiên

Đến chúng sinh vô tận

-

Xin cho khắp muôn loài

Sống yên lành bên nhau

Không ganh ghét oán thù

Không chiến tranh giết chóc

-

Xin cho kẻ bất thiện

Biết tin có luân hồi

Có nghiệp báo trả vay

Để hồi đầu hướng thiện

-

Xin kẻ mù được sáng

Kẻ điếc lại được nghe

Kẻ nghèo được ấm no

Kẻ ốm đau bình phục

-

Xin cho loài cầm thú

Thoát được nghiệp ngu si

Tái sinh vào cõi người

Biết tu theo Phật Pháp

-

Các vong linh vất vưởng

Trong cõi giới u huyền

Thoát nghiệp đói triền miên

Quy y và siêu thoát

-

Xin cho nơi địa ngục

Chúng sinh đang đọa đày

Khởi được tâm từ bi

Để xa lìa cảnh khổ

-

Cúi xin Mười phương Phật

Chư Bồ Tát Thánh Hiền

Đem chánh pháp thiêng liêng

Sáng soi nghìn thế giới

-

Cho chúng con mãi mãi

Dù sinh về nơi đâu

Đều gặp pháp nhiệm mầu

Để nương theo tu tập

-

Cho con biết khiêm hạ

Biết tôn trọng mọi người

Tự thấy mình nhỏ thôi

Việc tu còn kém cỏi

-

Cho tay con rộng mở

Biết san sẻ cúng dường

Biết giúp đỡ yêu thương

Đến những người khốn khó

-

Xin cho con bình thản.

Trước nghịch cảnh cuộc đời

Dù bị mắng bằng lời

Hay bằng điều mưu hại

-

Xin tâm con sung sướng

Khi thấy người thành công

Hoặc gây tạo phước lành

Như chính con làm được

-

Cho con biết im lặng

Không nói lỗi của người

Chỉ lặng lẽ dùng lời

Cầu cho người hết lỗi

-

Xin vòng dây tham ái

Rời khỏi cuộc đời con

Để cho trái tim con

Biết yêu thương tất cả

-

Cúi lạy mười phương Phật

Đau khổ đã nhiều rồi

Vô lượng kiếp luân hồi

Đắng cay và mõi mệt

-

Nay con dâng lời nguyện

Giải thoát quyết tìm về

Giác ngộ quyết lìa mê

Độ sinh đền ơn Phật.

***

NAM MÔ BẢN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT. (3 lần)

-

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

NAM MÔ ĐẠI LỰC ĐẠI THẾ CHÍ BỒ TÁT

NAM MÔ QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT

 

Louis Braille: 3 tuổi mù mắt và Phát minh chữ nổi! 👁️✨

Ông sinh ngày 04/01/1809 tại thị trấn miền quê Coupvray, ngoại ô thủ đô Paris, nước Pháp. Cuộc đời ông là một hành trình đi từ bi kịch tàn khốc đến phép màu nhân văn thay đổi lịch sử.
 
👁️ Bi kịch tuổi lên 3: Trong một lần chơi đùa tại xưởng da của bố, khi cậu đang tìm cách đục lỗ vào một miếng da to và nặng quá khổ so với cậu, chiếc dùi đã bị gãy và văng vào mắt bên trái. Vết thương nhiễm trùng nặng rồi lây sang mắt còn lại, khiến cậu mù hoàn toàn năm 5 tuổi. Thời bấy giờ, mù lòa đồng nghĩa với một cuộc đời tăm tối, thụ động và bị gạt ra ngoài lề xã hội.
 
❌ Không cam chịu số phận: Dù sống trong bóng tối, Louis vẫn khao khát học tập. Khi biết đến hệ thống "văn bản đêm" gồm 12 chấm phức tạp của quân đội Pháp, Louis nhận ra nó quá thô sơ và khó dùng. Cậu quyết định tự mình "đập đi xây lại" toàn bộ cấu trúc.
 
💡 Phát minh vĩ đại tuổi 15: Thay vì cải tiến thô sơ, Louis đã PHÁT MINH ra một hệ thống hoàn toàn mới. Cậu thu gọn lại chỉ còn khung 6 chấm nổi — vừa vặn hoàn hảo dưới một đầu ngón tay. Đây là một ngôn ngữ ký tự hoàn chỉnh từ chữ cái, chữ số, dấu câu cho đến cả nốt nhạc!
 
Chính chiếc dùi nhọn năm xưa làm mù mắt ông, giờ đây lại được ông dùng để dập từng chấm nổi trên giấy, mở ra cánh cửa tri thức giải phóng tư duy cho hàng triệu người khiếm thị trên toàn thế giới.
 
🕊️ Di sản xuyên thế kỷ:
Dù từng bị cấm đoán tại trường học lúc sinh thời vì các giáo viên mắt sáng không hiểu được, chữ Braille đã chiến thắng thời gian. Đến tận ngày nay, chữ nổi Braille vẫn hiện hữu trên các nút bấm thang máy, bàn phím máy tính, bao bì thuốc... giúp người khiếm thị tự chủ cuộc đời.
Để vinh danh đóng góp vĩ đại của ông, Liên Hợp Quốc đã chính thức chọn ngày 4 tháng 1 hằng năm (ngày sinh của Louis Braille) làm Ngày Chữ nổi Thế giới, như một lời nhắc nhở về nghị lực phi thường có thể thay đổi số phận của hàng triệu con người. 💪

C100: Nô Lệ Kiếp

 C100: Nô lệ kiếp

Kiếp nô lệ ấy của hắn kể cũng sung sướng tột độ. Đi tù mà chẳng phải chịu khổ sai gì, có kẻ cung phụng từ chân đến cổ, cơm bưng nước rót, lo liệu mọi đàng. Ai bắt tội chủ tù đâu, nhưng quản tù ấy cứ trách nhiệm đầy mình như vậy. Hắn đi tù mà như đi vãn cảnh. Nhàn hạ đến nỗi ruồi bâu không thèm đuổi. Thích gì thì làm đấy, miễn sao trong phạm vi quản lý của chủ tù. Chủ tù than ôi gã mới chính là nô lệ. Nô lệ lẫn nhau! Cái quyền lực tinh thần vô hạn của nô lệ là vô song bất khả thuyết. Chỉ là nô lệ có nhận ra và vận hành được quyền lực cao cả ấy nơi họ.

Tiền bạc không phải động tay đếm hay lo kiếm, vì quản tù đã kiếm đủ cả đời giờ chẳng biết nên tiêu vào đâu mới phải. Quản tù lại phải cân luôn chi tiêu nhỏ nhặt từ chợ búa đong gạo đến xà phòng bột giặt hay thuốc men tã bỉm. A Đường không phải quản bất cứ sự vụ gì trong tù. Chỉ việc bình tâm tĩnh trí, mà suy nghĩ mọi sự sai lầm hay đúng đắn của chính mình, của trần gian. Nếu hắn muốn, ho một tiếng thì quản tù phải tự liệu mà sắp xếp từ tinh thần đến vật chất để hộ tống hắn hành trình dài đi Nepal hay Xứ Tạng, Ấn Độ hay Pakistan, biển cả hay sa mạc bất kì. Chỉ cần hắn nhất định quyết chí. Quản tù chỉ mong mỏi, yêu cầu, đòi hỏi hắn một điều duy nhất là: "Sống sao cho hẳn hoi tử tế, để quản tù có chết cũng nhắm mắt xuôi tay được."

Điều thư hai là: "Hãy yêu thương quản tù như chính mình." Thân ái, quan tâm, đừng lạnh nhạt, xa lánh quản tù. Quy phục thì thôi tùy tâm, quản tù cũng chẳng bắt nữa. Nhưng trái tim hờ hững thì xin đừng.

Nói như vậy để hắn tự biết thân biết phận mình sung sướng đến độ nào, mà cảm ơn ông trời đã cho một kiếp tù đày vi diệu.

Đi tù mà còn được bao ăn ngon đến phát ngán, mặc đẹp đến phát nản. Rồi bao sách vở hay ho, kỳ cùng gì cũng được dâng đến tận mắt chỉ việc đọc. Cũng không ai bắt phải đọc, không đọc thì nằm kềnh ra ngủ phẻ, thả hồn mà nghe nhạc, quản tù cũng chỉ nhắc nhở vài lời. Hắn cứ vậy mà ngày dài qua tháng rộng tự tung tự tác trong tù đày tâm trí, hồn thể, cuộc tình.

Rảnh rỗi, lại gõ xuống một chương về người mà hắn lưu tâm. Một sự gì đó quá hay, bay bổng, vượt khỏi những tục lệ tù túng của trần gian này... Tán thán thay là những kiếp nô lệ. Những kiếp phục vụ tình thương thường hằng.

---------------


Sojourner Truth sinh năm 1797 ở Hurley, New York, là con gái của hai vợ chồng nô lệ tên là Betsey và James Hardenbergh. Chủ của họ là Colonel Johannes Hardenbergh. Nô lệ thì được lấy tên theo họ của chủ. Cha của Sojourner cũng được gọi là Baumfree, một từ trong tiếng Dutch có nghĩa là cây, bởi vì ông trông có vẻ vạm vỡ như một cái cây vậy. Sojourner lớn lên cũng như cha mình, to cao, thẳng thắn, và khỏe.

Khi Sojourner ra đời, cha mẹ gọi cô là Isabella hay Belle. Nhiều năm sau, khi đã được tự do, cô đổi tên mình thành Sojourner Truth. Isabella có nhiều anh chị em, hầu hết họ đều bị bán như bao nô lệ khác, dưới tay những người buôn nô lệ. Thỉnh thoảng vào ban đêm, mẹ cô nhìn lên trời và buồn bã nói: "Nhìn đi con, cũng chính những ngôi sao này, mặt trăng này, đang nhìn xuống các anh chị em con đó... nhưng họ ở xa đây, cách rất xa nhau mỗi người."

Isabella ghét cách mà nô lệ kiếp đã chia cắt gia đình bao người. Khi cô lên 3, chủ nô của cả nhà cô qua đời. Con trai ông ấy lên làm chủ. Chủ mới này không tốt. Cả nhà Isabella cùng những nô lệ khác phải sống trong những căn hầm ẩm thấp và lạnh lẽo. Khi Isabella lên 9, cô bị tách khỏi gia đình và bán cho một chủ khác, là ông bà John Neely, họ đánh đập cô rất nhiều.

Isabella được mẹ dạy cầu nguyện và tin vào God. Hai năm sau, ông bà John Neely lại bán cô cho Martin Schryver, một người đánh cá và làm mực in. Một năm sau nữa, cô lại được sang tay cho John Dumont. Cô làm việc chăm chỉ cho John Dumont đến nỗi ông chủ này phải tán thán với bạn bè rằng: "Nô lệ tốt ấy có thể giặt cả núi quần áo cho cả nhà vào ban đêm, và sáng sớm đã sẵn sàng ra đồng làm việc tiếp. Sức làm gấp đôi những bàn tay lao động giỏi nhất của tôi." Khi ấy, Isabella gặp Robert, cũng là một nô lệ làm việc trên cánh đồng cạnh nhà. Cả hai hẹn hò và bị bắt gặp. Robert bị đánh thậm tệ, họ trói anh lại và đưa đi. Từ đó cả hai không bao giờ gặp lại.

Isabella kết hôn với Thomas, một nô lệ cùng thuộc sở hữu của ông chủ Dumont. Ông chủ sắp đặt vậy để tăng số nô lệ sở hữu. Isabella và Thomas có 5 người con: Diana, Elizabeth, Hannah, Peter, và Sophia. Vào năm 1817, một luật mới ở New York được ban hành, thả tự do cho Isabella cũng như mọi nô lệ khác sau thời hạn 10 năm nữa. Ông chủ hứa sẽ trao tự do cho cô sau 9 năm, nếu cô tiếp tục làm việc chăm chỉ. Isabella làm việc trên đồng, cày cấy, thu hái, đủ mọi việc. Nhưng đến thời hạn, ông chủ lại nuốt lời.

Cô giận dữ và quyết định bỏ trốn. Nhưng cô vẫn hoàn thành nốt việc được giao. Quay sợi 100 pounds (khoảng 50 kg) lông cừu. Xong xuôi, sáng sớm, cô mang theo con gái út chưa đầy một tuổi chạy trốn. Cô tới nhà Levi Rowe, một nhà nông Quaker cũng ghét sự nô dịch. Ông giúp cô bằng cách gửi cô tới chỗ ông bà Isaac và Maria Van Wagener. Chủ cũ Dumont tìm được cô ở đó và yêu cầu cô quay lại. Nhưng không, cô kiên quyết đáp. Nhà Wagener trả cho Dumont một số tiền chuộc nhất định để cô và con gái cô được tự do. Isabella lao động cho Wagener qua mùa đông 1826. Sang năm sau đó, cô hay tin con trai 5 tuổi của cô là Peter đã bị Dumont bán cho Solomon Gedney, và người này lại bán tiếp cho một kẻ khác ở tận Alabama. Việc bán nô lệ từ bang này sang bang khác như vậy là trái pháp luật.

Isabella nói với Dumont:  "Tôi sẽ đòi con tôi về."

Cô tới tòa án, kiện Solomon, và thắng. Cô là người phụ nữ Da Đen đầu tiên ở Mỹ thắng kiện trong phiên tòa đối lại người da trắng. Năm 1829, Isabella đưa Peter trở về và vẫn làm việc như nô lệ bình thường. 1833, cô tham gia một cộng đồng ở New York gọi là "Kingdom of God" (Nước Trời). Cô góp toàn bộ tiền bạc của mình vào đây và cả công sức nữa. 1834, lãnh đạo của cộng đồng qua đời. Isabella bị buộc tội trên một tờ báo New York rằng cô đã đầu độc ông. Cô kiện tờ báo ấy và lại dành chiến thắng. Người tung tin sai sự thật phải bồi thường Isabella $125. Người phụ nữ da đen này có một thẩm quyền gì đó khiến quan tòa phải nể sợ, dù cô chỉ là một nô lệ. Cô nói: "Người giàu cướp của kẻ nghèo. Và kẻ nghèo cướp lẫn nhau." Năm 1843, cô nói với chủ nô của mình lúc bấy giờ: "Tinh Thần đang gọi tôi, tôi phải lên đường." Tôi không còn là Isabella nữa, mà sẽ là Sojourner (nghĩa đen: người tạm trú).

Bởi cô dự định sẽ chỉ tạm trú, cứ đi khắp nơi, vừa đi vừa nghỉ, đến thăm nhiều chỗ, và thuyết giáo. Và bởi cô coi God là chủ nhân duy nhất của mình, tên ngài là Truth (Sự Thật), nên cô lấy họ mới đặt cho mình theo đó: Sojourner Truth.

Hành trình của Sojourner đưa cô vượt hàng ngàn dặm, qua khắp các bang của nước Mỹ. Cô giảng về tôn giáo, lên tiếng về nô dịch, đại diện cho lẽ phải của phụ nữ. Sự khiêm tốn, chân thực, và sức mạnh trong cô khiến cô trở thành một trong những nhà hùng biện nổi tiếng nhất đương thời. Sojourner Truth không hề biết đọc hay biết viết, nhưng bất cứ nơi nào cô đến, cộng đồng đều hoan nghênh cô. Những người có tiếng nói chống nô lệ tới nghe cô giảng. Cô biết về Kinh Thánh qua tâm. Cô nói: "Tôi nói với God, God nói với tôi."

Một người phụ nữ kể lại dáng vẻ của Sojourner Truth: "Cao 6 feet, đầu thẳng đứng, mắt sắc nhọn xuyên qua tầng không như một người trong mơ. Lời đầu tiên cô nói là một sự im lặng thăm thẳm. Cô nói bằng tông giọng trầm, dù không to, nhưng có thể chạm tới từng đôi tai trong phòng."

Sojourner Truth gọi những chủ nô là kẻ có tội, sẽ sớm bị trừng phạt bởi God. Cô cười vào ý nghĩ coi thường phụ nữ là phái yếu, yếu hơn đàn ông. "Nhìn tôi đi" cô nói. "Tôi đã cày bừa và trồng trọt ... tôi có phải là phụ nữ?" Rồi cô sắn lên tay áo và khoe ra cơ bắp mình. "Các chị em! Nếu phụ nữ muốn lẽ phải, hơn những gì mình có, thì tại sao không tự tay lấy chúng, đừng chỉ nói."

Năm 1849, cô về thăm chủ cũ Dumont. Ông hối lỗi: "Những ngày nô dịch khi trước, không có mấy ai phản kháng sự ấy. Giờ nô dịch đã là thứ xấu xa nhất trên đời, lời nguyền mà quả đất đã nhận." 1850, cô được người ta phỏng vấn và lên sách. Tiền từ sách cô dành để tiếp tục di chuyển và giảng. 1857, cô mua một ngôi nhà ở Michigan và đón một số người con cùng cháu về ở. 1861, nội chiến Mỹ bắt đầu, một cuộc chiến để chấm dứt nô lệ kiếp cho cả quốc gia. Cô quyên tiền để nuôi quân lính - những người da đen mới được nhập ngũ do Abraham Lincoln huy động. 1864, cô có cuộc gặp với tổng thống Lincoln, sau đó cô nói: "Tôi chưa bao giờ được bất cứ ai đối đãi bằng lòng tử tế và sự chân thành đến vậy. Tôi cảm như gặp một người bạn tốt." Cô nói với Lincoln: "Ông là tổng thống tốt nhất từng nhận chức."

Khi tới Washington D.C, những kẻ buôn nô lệ ở Maryland lùng bắt nô lệ. Sojourner Truth tập hợp quân lính của nhà nước, đánh đuổi những kẻ đó. Cô được chọn làm cố vấn giải phóng nô lệ ở Virginia. Cô cũng làm việc trong bệnh viện nữa. Khi ấy người da đen và da trắng chia biệt nhau kể từ chỗ ngồi. Những lái xe thường không dừng xe để đón người da đen. Sojourner phản ánh với tổng thống về việc này song vẫn khó giải quyết. Một hôm cô chắn ngang đường xe ngựa kéo, buộc người đang lái xe phải dừng lại. Khi người ta đối xử bất công với cô, cô cho họ biết thế nào là lễ độ. Đây là việc mà người phụ nữ này làm giỏi. Cô lên tiếng không chỉ cho chính mình. Từ ấy, da đen và da trắng ngồi trên xe cạnh nhau như hạt tiêu và muối trên bàn.

1865, Abraham Lincoln bị ám sát. Những năm 1870, rất nhiều nô lệ đã được tự do nhưng rơi vào cảnh thất nghiệp, không có việc làm bởi chủ nô không mướn, họ sống trong thậm tệ đói nghèo. Sojourner Truth sớm nhận ra sự thật rằng tự do khỏi kiếp nô lệ không có nghĩa là tự do khỏi nghèo đói, khinh ghét, và phân biệt đối xử. Sojourner Truth đã mơ về công lý cho tất cả mọi người, da đen và da trắng, đàn ông và đàn bà.

Sojourner Truth qua đời ngày 26 tháng 11 năm 1883, giấc mơ của bà vẫn chưa hoàn tất. Nhưng bà là một trong những người can đảm, thẳng thắn nhất, mở đường cho nỗ lực ấy.







C99: A Đù tái ngộ

C99: A Đù tái ngộ


Từ khi trở thành tru tiên, tán hồn hắn đã mất tiêu hết thảy tu vi sâu dày từ thủa nào. 

Nói gì đến thần thông cao siêu thuật pháp, chỉ đến việc hiểu chính bản thân mình, hắn còn không thể. Hắn không phân biệt được gì là ảo tưởng ảo cảm, chi là chân thật chân tri. Đời hắn đã dành quá nửa vào tục sự ái tình. Lục Dục (Sắc - Thanh - Hương - Vị - Xúc - Pháp), và bao "triền miên cái" tham - sân - si - mạn - nghi trong hắn những tưởng đã dứt sạch, nay trở lại và lợi hại gấp nhiều lần. Hắn đã là phàm nhân, đích thị phải ngụp lặn trong Hải Dục Hồi Cuồng miền hạ. Biết bơi, biết thở, biết quẫy, biết đạp ... chỉ vậy là đã mừng, huống gì cưỡi sóng cưỡi cá mà thị hiện thần thông... Có chăng chỉ là cơn mơ trong cõi A Còng siêu thực.

Đã lâu không trò chuyện với cái bóng của chính mình. Hắn lại lẩn thẩn ngồi nhìn vào bức vách (nay là cái màn hình laptop). Ngọn nến chính là khúc xạ ánh sáng trắng trên màn hình toàn những con chữ nhảy. Hắn cười vào mấy con chữ chẳng mấy ai đoái hoài này. Cũng cười vào chính mình mông muội toàn tập. Đâu đó chợt nghe tiếng A Đù trong đầu gạn hỏi:

A Đù: Sao ngươi cứ thích tự mình đù mình vậy?

A Đường: Ngươi thôi hỏi những câu hỏi vô nghĩa đi có được không?

A Đù: Chẳng có câu hỏi nào là vô nghĩa trên đời này đâu.

A Đường: Ngươi có tin không? Có tin ta có thể hồi phục tiên lực và tu vi sâu dày sau tất cả?

A Đù: Nhúng tràm, tắm bùn lâu quá rồi. Thì tự phải thanh tẩy, xóa cả hình săm trong tâm hồn nữa, ngươi phải tự tin mình ...

A Đường: Ta săm hình gì mà ngươi dám bảo?

A Đù: Hình săm vô hình, chỉ mình ngươi nhìn thấy thôi. Mấy hình săm ấy là bóng ma tâm thức, nghiệp thức của ngươi do chấp ngã vi khởi bao đời. Nhìn mắt thường không thấy đâu. Giống như Long Hải Hội với Hùm Cọp Nhóm ấy. Ngươi cũng có săm đầy mình những hình tâm thức. Chằng chịt hoa văn kinh dị lắm!

A Đường: Ngươi đừng dọa ta.

A Đù: Dọa gì đâu. Bất cứ ai trên đời này cũng có, không chỉ mình ngươi đâu.

A Đường: ...

A Đù: Người sợ điều gì, trời sẽ trao điều đó. Ghét của nào, trời càng giao của vậy!

A Đường: Ta sợ và ghét những kẻ ngu mà mạnh.

A Đù: Thì đó... cho đến khi nào chính ngươi ngu mà mạnh! Ắt sẽ hết sợ. Ngươi phải trở thành cái thứ mà ngươi sợ.

A Đường: Ta sợ và ghét những kẻ ăn thịt uống máu trẻ nhỏ. Moi tim và chặt đầu kẻ khác không ghê tay.

A Đù: Thôi, đừng sợ hay ghét điều gì nữa. Chứ không thì khổ cho ngươi thôi. Cứ phải khổ vì quái vật mãi. Bao giờ mới xong?

A Đường: Ta muốn ăn chay!

A Đù: Thôi, đừng muốn bất cứ một thứ gì. Ngộ nhỡ ý muốn không đáp ứng được như nguyện thì lại phải day dứt nữa.

A Đường: Kể cho ngươi vụ này. Trước đây ta từng lập chí trường chay. Lập chí bỏ nhà ra đi, "tự thân lập thành đại đạo". Bỏ nhà đi thì phải có kế sinh nhai mới từ từ tính tiếp được. Ta mò vào một quán bia nhậu ven hồ Tây. Được chủ quán dẫn tới một quán khác. Quán này rất nhiều bát đũa bẩn chưa rửa vì thiếu nhân sự. Ta sắn tay áo rửa cả ngày trời, đổ bao nhiêu vỏ tôm vỏ ốc... Tối được ăn rau cải xào mà đầu bếp dạy phải lửa to đùng đùng xào mới ngọt... Tiếc rằng ta bỏ việc trong ngày thứ ba, lẻn đi khi mặt trời còn chưa mọc. Lại xách ba lô về nhà. Nguyên nhân vì, gặp được một người này làm ta thay đổi quyết định. Cái tính hay thay đổi quyết định này, ta hận lắm.

Về đến nhà, ta lại vùi đầu vào dế xem có gì giải tỏa nỗi buồn. Thấy ngay một bài chia sẻ của anh bạn mới quen tên là Cường. Trời đất ạ, toàn quen những kẻ Dương Cường Công Dũng ... mà chính mình thì nhũn như bùn lầy. Bài chia sẻ tình cờ nói về cuộc hội ngộ kỳ cùng của "Xuân Tóc Đỏ" và đệ tử khờ dại nhiều đời nhiều kiếp của hắn ở một chỗ khỉ ho cò gáy nào đó. Mà "Xuân Tóc Đỏ" gọi mãi, gọi mãi kẻ đó mới mò tới được. Đọc xong, ta thấy bứt dứt khó chịu quá đỗi. Không biết có phải là vì ân hận đã thối chí bỏ việc làm tạp vụ ở quán ốc ven hồ.. hay là tức giận chính mình vì không giữ được lời nguyện trường chay... hay là vì bất mãn gì đó rất mơ hồ khó tả. Ta cứ cấu chân bứt tay, vò quần bứt áo mãi. Rồi không thể hiểu nổi sự bứt rứt ấy tại sao cứ dâng lên ngùn ngụt, như đứa trẻ không đạt được điều gì nó mong. Liền khóc. Ta quằn quại dãy dụa một đống phủ phục tại chỗ mà khóc. Mà ấm ức cùng tự hận. TỰ HẬN là cái từ chính xác nhất để miêu tả cảm xúc lúc bấy giờ. Đã qua rất lâu rồi mà giờ vẫn nhớ rõ. Lúc ấy ta không hiểu tại sao, chỉ nghĩ là vì mình đã thối chí, bỏ việc ở quán ốc. Mình là kẻ vô dụng, vô dụng đối với chính mình. Vô dụng vì không thể dũng mãnh, cường công, kiên định với mọi quyết chí nơi mình. Giận chính mình như một con ốc yếu ớt hèn nhát. Muốn bò ra khỏi vỏ nhưng lại sợ hãi một điều gì mà lại chui vào. Ta không tự tin một chút nào! ...

A Đù: Thế là tốt! Tự tin làm bất cứ một việc gì cũng đều là vô ích, chỉ cho đến khi nào ngươi hoàn toàn tỉnh thức, hoàn toàn giác ngộ về chính ngươi.

A Đường: ... Ta bị bệnh ...

A Đù: Bệnh gì cũng có thể chữa khỏi. Như Ram Gopal đệ tử của Xuân Tóc Đỏ nói đó!

A Đường: Bệnh của ta không bao giờ khỏi được hết, cứ chữa nó lại bệnh, lại chữa lại bệnh.

A Đù: Bệnh hồng trần thì ta biết rồi. Ai cũng vậy, ai cũng có mà. Không có gì đặc biệt đâu mà suy diễn nhiều.

A Đường: Không! Bệnh của ta giống bệnh của Duy Ma Cật cơ ...

A Đù: Ma Cật với Ma Sơ thì cũng vậy. Chỉ là vẫn chưa vô úy, vô biên, nên mới còn bệnh tật khổ não.

A Đường: Vậy làm sao để vô úy, vô biên?

A Đù: Ngươi tự nghĩ đi. Hỏi ta ta biết hỏi ai?

A Đường: Nếu ngươi bị đù lâu quá, như Ngộ Không bị đè dưới Ngũ Hành Sơn ấy. Thì ngươi làm gì trong lúc ấy để vô úy vô biên?

A Đù: Thì quán tâm không phải là đù. Tâm này vốn vô biên. Ngũ Hành Sơn (Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ) hay Ngũ Ấm Ma (Sắc - Thọ - Tưởng - Hành - Thức) ... thảy đều không phải là ta.

A Đường: Thế ta là gì?

A Đù: Ta là tất cả và vượt qua tất cả!

A Đường: ... Ta thấy Ngài bí ẩn quá. Ẩn quá thì làm sao, biết đàng nào mà vươn tới, mà nỗ lực?

A Đù: Như những khúc nhạc. Ẩn hay hiện là do tai ngươi có nghe được không, loa có chất lượng hay không, có thẻ nhớ để cắm vào bật liên tục hay không. Có không gian yên lặng, tĩnh tại để nghe được rõ không. Ngài cũng như những khúc nhạc. Khi không nghe thấy thì cho là ẩn. Khi nghe thấy thì biết là hiện.

A Đường: ...

A Đù: Nhạc chỉ là một phương pháp trong hàng ngàn phương pháp để biết Ngài. Có những người biết Ngài qua phương trình toán học, hóa học, vật lý học, thiên văn học, công nghệ thông tin học, thí nghiệm học, bác sĩ học, nông dân học, đau khổ học ... Ngươi nghe nhạc là dễ dàng nhất rồi.

A Đường: ...

" Một hành tinh mịt mù lửa khói,
Tinh thể hình thành, sinh sản tế bào,
Đến loài sứa và loài bò sát,
Và con người ở hang động buổi sơ khai;
Rồi ý thức luật công bằng và mỹ lệ,
Họ không còn bận bịu với đeo đai –
Có người gọi đó là Tiến hóa,
Cũng có người gọi là Thượng Đế Chí Tôn.

Như triều sóng trên bờ biển hình cong vút
Trăng thượng tuần trăng khuyết trăng lưỡi liềm,
Niềm mong ước tuôn tràn trong tâm khảm
Mãi trào dâng và cứ mãi trào dâng:
Từ đại dương bao la, huyền bí
Bờ cát tinh khôi chưa một vết chân –
Có người gọi đó là Niềm khao khát,
Cũng có người gọi là Thượng Đế Chí Tôn.

Trong giá rét người lính canh làm nhiệm vụ,
Người mẹ hiền chịu đói khát vì con,
Socrates uống ly độc cần, điềm tĩnh,
Và Jesus trên thánh giá, bình an
Muôn triệu người không tên và khiêm tốn,
Lê bước trên đường chân chánh, gian nan
Có người gọi đó là Dâng hiến,
Cũng có người gọi là Thượng Đế Chí Tôn.

(William Herbert Carruth.)

Thập giá hình và Thập tự giá của Đức Christ có nguồn gốc hết sức xa xưa. Cả hai đều tượng trưng cho sự mãi mãi hy sinh của Thượng Đế khi Ngài hòa mình vào phương diện hình thể của thiên nhiên. Bằng cách này, Ngài trở thành Đấng Thượng Đế hằng hữu nội tại trong tâm vạn vật và đồng thời cũng là Đấng Thượng Đế siêu việt trên vạn vật.

Thượng Đế bị gắn chặt vào thập tự giá của hình thể vật chất. Nhờ thế mà rốt cuộc Thiên giới mới có thể xuất hiện ở Thế gian. Điều này có hàm ý tinh thần hóa vật chất và hình thể, nâng cao vật chất lên cõi trời, và giải thoát Thượng Đế khỏi thập giá hình của vũ trụ. Thi sĩ Joseph Plunkett diễn tả điều này thật hay trong những vần thơ dưới đây:

“Tôi thấy máu huyết Ngài trên những đóa hoa hồng
Trong các vì sao, ánh mắt Ngài chói rạng,
Giữa băng tuyết vạn niên, thân xác Ngài rực sáng,
Lệ Ngài rơi xuống từ mấy tầng không.
Tôi thấy Ngài lộ diện trong mọi đóa hoa,
Tiếng của Ngài là sấm rền, và chim ca lãnh lót,
Hang động thâm u, quyền năng Ngài cao tột.
Đá núi chênh vênh in bút tự của Ngài.
Bước chân Ngài trên bao quãng đường dài
Biển rộng triều dâng theo nhịp tim Ngài thánh thiện,
Vòng gai nhọn Ngài bện thành vương miện
Mọi thân cây là thập tự giá của Ngài.

Trên nhân hồn của mỗi người có Chân hồn ngự trị,
Là linh hồn uy mãnh nhưng vẫn thuộc về ta!
Có âm thanh bao gồm tiếng nói của toàn nhân loại,
Là suối nguồn của muôn vạn bài ca:
Ta sống trong Chân hồn, Chân hồn ở trong ta,
Với thọ mạng vô cùng qua vạn kỷ;
Khi nhân hồn chết trong thánh thiện và hoàn mỹ
Sẽ nhận sự sống thiêng liêng vĩnh cửu trường tồn.”

(Richard Watson Dixson)


A Đù: Sống theo ý Thiên Chúa! Vậy có nghĩa là gì? Là tất cả đều được vận hành THEO THIÊN Ý! Và như vậy, hãy LÀM - MỘT CÁCH QUYẾT LIỆT, DỨT KHOÁT, điều mà từ sâu thẳm bên trong NHẬN ĐỊNH, đó là điều THUẬN VỚI Ý MUỐN CỦA THƯỢNG ĐẾ!

A Đường: Ngươi có biết không? Ta luôn mang một mặc cảm "phản bội" gì đó rất sâu sa. Như là, ta được sinh ra từ phàm tục, từ thảy thảy hồng trần tục sự. Ta lại muốn phản bội tất thảy để làm một cái sự gì đó ngược với phàm tục. Ta đã kết hôn với đời trần. Trần đời cung cấp cho ta đủ mọi sự, từ quả trứng gà đến mớ rau ngon. Từ cái vung nồi đến cái nắp lọ, từ cái que thử đến cái hình người ... Tất thảy thảy mọi phép thử đều đến từ Hồng Trần. Vậy mà xong rồi thì, ta lại muốn phải bội, vứt hết, bỏ lại tất thảy thảy hồng trần đằng sau lưng, để chạy tới Thiêng Liêng gì đọ? Như cái ông "Qua" Nguyên Vũ gì đó... bỏ vợ con mà tuyên bố đình đình đám đám cho thiên hạ cười ruồi!

A Đù: Việc của người ta ngươi chúi mũi vào làm gì? Mỗi người mỗi con đường đạt ngộ. Hết thảy mọi sự "phản bội" trên đời này đều như gà con "phản bội" vỏ trứng. Nó phải nở, phải đạp vỏ trứng mà tự chui ra. Cái từ "phản bội" khi ấy có thể hiểu khác đi, theo nghĩa rộng hơn rất nhiều.

A Đường: Kiến giải rất hay! Ta xin ghi nhớ.

A Đù: Nhớ cái đầu ngươi. Không cần nhớ. Mọi sự nhớ đều chỉ là những cái hình săm cố hữu, chất chồng lên nhau vậy còn chưa đủ hay sao?

A Đường: Đù! Cái gì ngươi cũng chê được.

A Đù: Đại Toàn Thiện mà ...

A Đường: Đừng động vào nỗi đau của ta nữa. Mối tình đầu lâu xương chéo!

A Đù: Phải động, phải chạm vào thì mới chữa được. Ngốc ạ. Cứ để đó nó mốc lên, thối lên... Không thông được tâm bệnh thì không bao giờ khỏi được.

A Đường: Giá mà ta có thể phanh ngực ra cho ngươi xem quả tim này to nhỏ thế nào ...

A Đù: Ngươi cứ hùng hùng hổ hổ vậy nhưng tâm ngươi thỏ đế, ta biết rồi.

A Đường: Còn ngươi, cứ đù đà đù đờ như vậy nhưng ...

Chẳng biết dùng từ gì để nói nữa vào lúc này, A Đường lại mở bức vách kiếm tìm một tệp sách bất kì đã lưu. Để copy cái roẹt cho chuyện lồng trong chuyện, chương lồng trong chương, cho lê thê thần tiên huyền hồ mộng. Hắn lại cảm khái về những người mù, cũng như vậy, hắn mù mờ mò mẫm miên tình đời ...


Mật Khải (The Prophet)
- Kahlil Gibran –

Chương 1: THUYỀN ĐẾN
Đạo sư Almustafa trong khi đứng trên bờ biển ngoài thành Orphalese để chờ thuyền đến đón về quê, ông nhìn lại mảnh đất thân yêu nơi ông đã trải qua 12 năm ấp ủ chân lý trong cô đơn trên đỉnh núi cao nhất không xa ngoại thành …

Ông thì thầm tự nhủ:
Đây chẳng phải là bộ y trang ta giũ bỏ hôm nay
Mà chính là thịt da tự tay ta lột xẻ.
Cũng chẳng phải một tư duy ta gởi lại
Nhưng là trái tim đã dịu ngọt bởi khát khao.

Phải chăng phút chia ly cũng là giây hội ngộ !
Phải chăng hoàng hôn ta
Cũng chẳng khác bình minh !
Ta sẽ hiến gì cho những cuộc đời dang dở ?
Sẽ hiến dâng những cây cành
Trĩu quả ngọt trong tim.

Khát vọng ta sẽ như suối nguồn bùng vỡ
Để rót tràn khoảng trống kiếp nhân sinh.
Trong tay Đấng Toàn Năng
Ta chỉ là cây đàn nhỏ bé
Là ống sáo đơn sơ mang hơi thở của Ngài.
Là kẻ kiếm tìm trong chiều sâu lặng lẽ
Ta sẽ chọn kho báu nào
Để phân phát an nhiên?
Nếu hôm nay là vụ mùa đích thực
Sao ta chẳng nhớ ra thủa gieo hạt đầu tiên!

Nếu phút này phải dâng đèn đốt lửa
Ngọn lửa kia nào phải lửa riêng ta
Trong bóng đêm ta sẽ nâng cây đèn rỗng
Để người lính canh châm lửa rót dầu.

Than ôi !
Những gì có thể thốt lên sao ít ỏi !
Để lại trong ta còn một biển vô ngôn !
Ôi năng lực ngữ từ sao kém cỏi
Chẳng thể nào tát cạn một biển hồn !

Than ôi !
Một lần thở nữa thôi trong tĩnh lặng
Một lần nhìn lưu luyến chốn xa sau
Rồi ta sẽ cùng lênh đênh chìm nổi
Như một viễn dương nhân
giữa những viễn dương nhân.

Hỡi biển mẹ bao la hằng thao thức
Nguồn tự do duy nhất của suối sông !
Lượn khúc chót, dòng này còn tuôn chảy
Còn thì thào lặng lẽ một lần thôi.
Rồi ta sẽ trong vòng tay biển mẹ
Giọt vô biên về giữa giọt vô biên.

(Hết chương 1)

Khi đạo sư nói xong những lời ấy, ông đi vào thành. Toàn dân thành Orphalese, kể cả những thầy tế lễ và những nhà tiên tri, trong đó có nữ tiên tri Almitra là người đầu tiên đã tìm đến và tin tưởng ông khi ông mới đặt chân đến thành này, kéo đến tụ tập quanh ông. Họ van nài ông chớ vội ra đi bởi niềm tin và tình cảm họ dành cho ông.  Họ mong muốn ông trao truyền lại những chân lý mà bấy lâu ông hằng ấp ủ … Almitra là người đầu tiên xin nghe chân lý về tình yêu.

Chương 2: TÌNH YÊU

Khi tình yêu vẫy gọi
Hãy tiến bước theo chàng
Dù đường tình hiểm trở
Đầy dẫy những gian nan.

Khi cánh tình ấp ủ
Hãy ngoan ngoãn thuận nhu
Dù lưỡi gươm trong cánh
Hằn vết chém thiên thu.

Khi tình yêu lên tiếng
Hãy tin, chớ nghi ngờ
Dù lời tình xáo động
Làm giông bão vườn mơ.

Tình dâng ta vương miện
Rồi tình đóng đinh ta
Tình nuôi cây ta lớn
Rồi chặt tỉa cành ta.

Tình vươn cao trong nắng
Mơn man đỉnh lá xanh
Tình luồn sâu trong đất
Nhỗ bật gốc rễ cành.

Tình gom ta trong tay
Đập vỏ rồi nghiền xay
Nhồi nặn trên ngọn lửa
Thăng hoa kiếp đọa đày.

Tình bắt ta đoạn trường
Cho tim ta bừng sáng
Biết tình sâu vô hạn
Buộc ta vào nhân gian.

Ai sợ tình sầu khổ
Hãy ra khỏi sân đời
Để cười không trọn tiếng
Để khóc không lệ rơi
Giữa mùa đông miên viễn.

Tình chẳng cho chẳng nhận
Chẳng chiếm đoạt riêng ai
Cũng chẳng ai chiếm được
Bởi tình là KHÔNG HAI.

Khi yêu không nên nói:
Người là của riêng tôi.
Nhưng tốt hơn hãy nói:
Tim tôi thuộc về người.

Chớ tưởng mình đủ sức
Tự tay khơi nguồn tình
Trừ phi tình cao hứng
Đã dọn sẵn bình minh.

Tình chẳng khát khao gì
Chỉ tự lo hoàn thiện
nhưng ai yêu cần biết
Hãy khao khát như sau:

Được tan thành dòng suối
Cất tiếng hát ru đêm
Được nếm mùi đau xót
Của bao nỗi dịu êm.

Được khắc sâu vết chém
Bởi thấu hiểu tình trường
Được hy sinh tự nguyện
Bằng hoan lạc yêu thương.

Mỗi bình minh thức giấc
Nghe lòng chắp cánh bay
Xin tạ ơn trời đất
Được yêu thêm một ngày.

Mỗi buổi trưa vắng lặng
Được buông xả thân tâm
Trong bình yên suy tưởng
Những ngây ngất tình thâm.

Những khi chiều tạnh nắng
Về bên bếp lửa hồng
Lòng biết ơn sâu nặng
Tình cho không biếu không.

Mỗi đêm vào giấc ngủ
Mang theo lời nguyện cầu
Cho người mình yêu dấu
Trên môi khúc tình sâu.

(Hết Chương 2)




 

 

C98: Ram Gopal

Một chương để nói về Ram Gopal trong "Tự truyện của một Yogi" do Nguyễn Hữu Kiệt dịch. Có sự khác biệt đáng kể về ngoại hình của Ram Gopal ở đây so với Ram Gopal trong "Hành Trình Về Phương Đông" do Nguyên Phong dịch.

Biết đâu, Ram Gopal thật có thể đã nói đùa với phái đoàn phương Tây một câu gây cười trước khi ra về: Nếu có ghi lại hành trình ấy thì hãy kể là Ram Gopal cực kỳ to cao vạm vỡ chớ đừng nói là nhỏ bé gầy ốm. Lời đùa của chân sư cũng là tuyệt đối đáng tôn kính! Họ cứ theo lời mà ghi lại y vậy.


SỰ GIAO CẢM NHIỆM MẦU

Mặc dù đã trải qua cả một thời thơ ấu với những dự báo nhiệm mầu và nhiều gian nan, vất vả mới gặp được sư phụ Śrī Yukteswar và được theo học tại đạo viện của người, nhưng tôi vẫn không tránh khỏi được một lỗi lầm mà hầu hết những kẻ sơ cơ học đạo đều mắc phải: Không bao giờ ý thức đầy đủ được về tầm quan trọng và giá trị của vị tôn sư đang kề cận dạy đạo cho mình. Điều này cũng là một tâm lý thông thường mà người thế tục vẫn gọi là “Đứng núi này trông núi nọ.”

Quả thật vậy. Sau sáu tháng tu tập với thầy Śrī Yukteswar tại tu viện ở đường Rai Ghat, tôi bắt đầu thấy chán nản với những phận sự được giao hằng ngày, và nhất là với bài vở ở trường đại học mà sư phụ đã buộc tôi phải trở lại theo học. Hơn thế nữa, tự trong tiềm thức xa xôi của mình, tôi vẫn chưa quên được giấc mơ học đạo trên dãy Hy Mã Lạp Sơn đầy thánh tích.

Một hôm, không kiềm chế được tâm trạng âm ỉ của mình, tôi thưa với sư phụ:

– Bạch sư phụ, xin sư phụ cho phép con lên Hy Mã Lạp Sơn để tu tập một thời gian. Con hy vọng cảnh núi rừng hoang vu cô tịch trên ấy sẽ giúp con thuận tiện hơn trong việc điều phục tâm ý.

Sư phụ nhìn tôi với ánh mắt cảm thông sâu xa mà phải rất lâu về sau tôi mới hiểu được. Người đã hiểu thấu tâm trạng tôi lúc ấy và biết rằng những kinh nghiệm tâm linh của riêng người không giúp được gì cho tôi trong lúc ngọn lửa bốc đồng của tuổi trẻ vẫn còn đang rực cháy. Sư phụ nói với tôi bằng giọng điềm tĩnh pha chút nghiêm nghị:

– Này con, chốn rừng núi hoang vu ấy không phải chỉ toàn những người chứng đạo không đâu. Còn có những mối hiểm nguy từ thú dữ, những thổ dân hoang dã và đường đi gian lao hiểm trở. Hơn thế nữa, sự rét buốt quanh năm trên đó không phải là dễ chịu cho bất cứ ai. Làm sao con có thể không học đạo với một con người mà mong rằng sẽ đạt được giải thoát trong những động đá hoang vu vô tri giác?

Thật là một sự ngu mê mà suốt quãng đời về sau tôi không sao có thể tự tha thứ cho mình được. Câu trả lời của sư phụ như ngọn đuốc sáng rỡ soi thấu sự vô lý trong ý muốn bốc đồng của tôi, nhưng tôi như người lóa mắt không sao thấy ra được những điều người muốn nói. Vì thế, không bao lâu sau, tôi lặp lại yêu cầu trên một lần nữa với người. Lần này, sư phụ chỉ im lặng nhìn tôi không nói gì. Trong sự u mê của mình lúc ấy, tôi cho rằng đó là dấu hiệu đồng ý của người. Khi trở về nhà ở Calcutta, tôi dành trọn buổi tối để tức thời chuẩn bị cho việc lên đường. Nhìn gói hành lý được chuẩn bị xong, tôi bỗng dưng nhớ lại gói hành lý năm xưa trong chuyến đi không thành lên Hy Mã Lạp Sơn. Tôi tự hỏi không biết lần này có lại thất bại nữa hay chăng? Thật ra, trong chuyến đi lần trước, tôi chỉ lo sợ vì gia đình không cho phép sự ra đi của tôi; còn chuyến đi lần này tôi không có gì để lo sợ, mà chỉ cảm thấy một sự buồn bực kỳ lạ khi nghĩ đến việc sẽ không còn được gặp gỡ sư phụ Śrī Yukteswar hằng ngày nữa.

Tôi tự vạch ra cho mình một kế hoạch hành trình để đi lên Hy Mã Lạp Sơn. Nhưng trước tiên, tôi còn có một việc khác phải làm. Tôi tìm đến vị giáo sư dạy Phạn ngữ ở trường đại học của tôi, ông Behari, để hỏi xin địa chỉ của một người mà tôi cho là mình cần phải gặp trước khi lên đường. Tôi nói với giáo sư:
– Thưa ông, ông có nói với tôi về một vị cao đồ của đức Lahiri Mahāsaya. Ông có thể cho tôi địa chỉ của người ấy được chăng?

– Chắc anh muốn nói đến Ram Gopal Muzumdar? Tôi vẫn gọi ông ta là vị tu sĩ không ngủ, vì từ khi quen biết ông ta tôi chưa từng thấy ông ta ngả lưng nằm ngủ bao giờ. Ông luôn luôn sống trong tâm trạng tỉnh thức của thiền định. Đây là địa chỉ của ông ta ở Ranbajpur, gần Tarakeswa.

Tôi cảm ơn giáo sư và lập tức sắp xếp đi Tarakeswa bằng xe lửa. Những hiểu biết của tôi về vị tu sĩ không ngủ này còn rất sơ sài. Tôi chỉ nghe nói là người đã đạt đến một sự chứng ngộ sau nhiều năm tu tập thiền định trong một động đá hoang vu cô tịch. Tôi hy vọng người sẽ truyền đạt cho tôi được ít nhiều những kinh nghiệm thực tế mà tôi có thể áp dụng được trong những ngày tu tập sắp tới trên dãy Hy Mã Lạp Sơn hoang vu kỳ bí.

Tại Tarakeswa có một ngôi đền rất lớn được hầu hết người Ấn Độ sùng kính và thường xuyên tìm đến lễ bái rất đông đúc. Một trong những điểm đặc biệt nhất của ngôi đền thiêng này là việc cứu thoát nhiều căn bệnh hiểm nghèo cho những ai thành tâm đến đây cầu nguyện. Một bà cô của tôi đã may mắn được là một người trong số đó. Hơn thế nữa, trường hợp của bà còn đặc biệt hơn những người khác ở điểm là không phải bản thân bà có bệnh. Bà đã đến đây cầu nguyện cho người chồng trong hơn một tuần lễ với sự chí thành. Vào đêm thứ bảy, bà ngủ thiếp đi một lát trước điện thờ vì quá mệt mỏi. Khi giật mình tỉnh lại, bà nhìn thấy một nhành lá tươi ngay trước mặt mình. Vui mừng, bà mang nhành lá ấy về sắc nước cho chồng uống, và căn bệnh kinh niên của ông ta đã hoàn toàn biến mất ngay sau đó một cách thật khó tin.

Tôi đã nghe quá nhiều về ngôi đền đến nỗi không thể không đến viếng khi tôi vừa đặt chân đến Tarakeswar. Nhưng khi đến nơi, cách bài trí của ngôi đền đã làm cho tôi không khỏi ngạc nhiên khi vừa bước vào. Điện thờ hoàn toàn hết sức đơn giản. Chỉ có một khoảng sân rộng mênh mông dành cho khách hành hương đến lễ bái. Và đối tượng lễ bái là một... tảng đá. Vâng, chỉ là một tảng đá tròn đặt trên bệ thờ cao, tượng trưng cho mọi sức mạnh thiêng liêng trong vũ trụ với hình tượng không có điểm khởi đầu và điểm kết thúc.

Trong lòng tôi lúc ấy, tôi cho rằng người ta chỉ nên lễ bái những biểu tượng của giải thoát. Một tảng đá vô tri giác không phải là trí tuệ giải thoát mà tôi đang tìm kiếm. Vì thế, tôi chỉ đứng nhìn với vẻ ngạo mạn mà không chịu quỳ xuống lễ bái như bao nhiêu người khác. Một vài người trong số khách hành hương nhìn tôi với ánh mắt ngạc nhiên dò hỏi, nhưng tôi chỉ phớt lờ đi và lặng lẽ quay ra. Ra khỏi đền thờ, tôi dò hỏi vài người khách đi đường và biết được đường đến ngôi làng Ranbajpur, một làng nhỏ mà người ta bảo tôi là cách đó cũng không xa lắm.

Không bao lâu tôi đến một ngã tư đường và dừng lại băn khoăn vì không biết phải đi thẳng hay rẽ theo lối nào. Tôi liền hỏi thăm một người có vẻ là dân địa phương lúc đó cũng vừa đi đến. Ông ta nghe tôi nói tên vị tu sĩ và tỏ ra rất quen thuộc. Ông ngẫm nghĩ một chút như để tìm cách diễn đạt sao cho tôi dễ hiểu, rồi quay về phía ngã tư đường, ông đưa tay chỉ:
– Theo con đường rẽ sang tay phải, ông chỉ việc đi thẳng và sẽ đến nơi mà không cần hỏi thăm ai khác đâu.

Tôi cảm ơn sự nhiệt tình của ông ta và rảo bước đi nhanh vì nôn nóng muốn sớm gặp được người mình tìm kiếm. Một lát sau, tôi gặp một con kênh đào và con đường bắt đầu chạy dọc theo bờ kênh. Thật đáng ngạc nhiên khi tôi vẫn đi mãi, đi mãi cho đến khi trời đã tối mà chưa đến được nơi nào cả. Không có vẻ gì là tôi đang đi đến làng Ranbajpur như lời chỉ dẫn của những người trong thành phố, bởi vì họ đã nói với tôi là ngôi làng không xa lắm. Trời tối hẳn và cảnh vật trở nên hoang vu kỳ lạ. Chỉ khi ấy tôi mới nhìn thấy được ở xa tít về phía trước những đốm lửa nhỏ lờ mờ cho thấy có vẻ như là có một ngôi làng ở đó. Tôi ước chừng cũng phải mất khoảng một giờ nữa mới đến được nơi ấy, vì những đốm lửa trông không rõ lắm, chắc phải là rất xa. Tôi cảm thấy mỏi mệt và thất vọng rã rời, vì đến lúc này thì tôi biết chắc là mình đã đi nhầm đường. Giáo sư Behari cũng đã nói với tôi rằng làng Ranbajpur nằm rất gần Tarakeswar. Như vậy, ngôi làng mà tôi nhìn thấy kia may ra cũng chỉ là một chỗ nghỉ chân, còn hy vọng gặp gỡ vị tu sĩ Ram Gopal Muzumdar trong hôm nay xem như đã hoàn toàn tan biến.

Tôi lần bước trong đêm tối được thêm một quãng xa nữa thì nghe có tiếng khua động. Một nông dân dắt bò từ dưới ruộng vừa bước lên đường. Chắc hẳn ông ta phải là người ở trong ngôi làng phía trước kia. Tôi hối hả đến gần và hỏi thăm ông ta về tu sĩ Ram Gopal. Ông này suy nghĩ một lát và nói:
– Không có ai mang tên đó ở làng chúng tôi cả.

Ông ta có vẻ nghi ngờ vì không hiểu được tôi là ai. Tôi liền giải thích cho ông hiểu mục đích chuyến đi của tôi... Ông ta nói:
– Đúng là ông đã đi nhầm đường. Làng Ranbajpur nằm cách đây rất xa. Khi ở chỗ ngã tư bên ngoài Tarakeswar, lẽ ra ông phải đi về bên trái thay vì bên phải.

May mắn thay, ông là một người rất tốt bụng. Ông đưa tôi về nhà và dọn chỗ cho tôi nghỉ đêm lại sau khi đã chiêu đãi một bữa tối thịnh soạn với cà-ri, súp đậu, khoai tây và chuối. Tôi ăn rất ngon vì quá đói. Tuy nhiên, cho dù rất mệt mỏi tôi vẫn không sao chợp mắt ngủ được trong đêm đó. Thái độ của người chỉ đường cho tôi ban chiều làm tôi vô cùng khó hiểu, vì ông ta có vẻ biết rõ về tu sĩ Ram Gopal và ngôi làng mà
tôi muốn đến. Như vậy, vì sao ông cố tình chỉ cho tôi đi sai đường? Hơn thế nữa, tôi vẫn chưa gặp được vị tu sĩ, người đã thôi thúc tôi vượt đường xa đến tận nơi này. Trong cơn mê tưởng chập chờn vì quá mỏi mệt, tôi lại nhớ đến tảng đá tròn trong ngôi đền và có cảm giác như mình đã sai trái khi tỏ thái độ ngạo mạn trước một biểu tượng thiêng liêng mà rất nhiều người đang lễ bái... Tất cả những suy nghĩ và hình ảnh đó cứ chập chờn mãi trong đầu tôi khiến cho tôi không sao thiếp ngủ đi được... cho đến khi trời sáng rõ.

Sáng hôm sau, tôi trở ngược lại theo con đường cũ để tìm đến làng Ranbajpur. Tôi đã gặp và hỏi thăm ít nhất là 5 người trên đường đi. Người nào cũng nói với tôi là còn chừng 2 dặm nữa sẽ đến làng Ranbajpur. Nhưng tôi đi đã 6 tiếng đồng hồ mà vẫn chỉ thấy toàn là đồng trống hai bên đường, không có dấu hiệu gì của làng mạc. Mặt trời nóng gắt và bầu trời trong xanh không một chút mây làm cho tôi thấy choáng nắng.
Tôi tự nghĩ có lẽ không sao đủ sức để tiếp tục bước đi, nhưng cũng không nhìn thấy bóng mát nào gần đó khả dĩ có thể tạm dừng chân nghỉ ngơi trong chốc lát. Ngay lúc đó, tôi nhìn thấy một tu sĩ từ phía trước đi ngược về phía tôi. Mặc dù con đường trống trơn, nhưng trước đó mấy phút tôi không hề nhìn thấy ông ta, nên tôi có cảm tưởng như ông ta đã đột ngột hiện ra không từ đâu cả!

Vị tu sĩ có vóc người nhỏ bé và thậm chí là hơi gầy ốm, nhưng đôi mắt sáng rỡ và linh hoạt. Trong đôi mắt ấy tôi nhìn thấy những tia sáng chiếu ra khi người nhìn vào tôi, còn sáng rực hơn cả ánh sáng mặt trời đang lúc giữa trưa này. Ông dừng lại trước mặt tôi, mỉm cười hiền hòa và nói:

– Lẽ ra tôi đã rời Ranbajpur, nhưng vì em tìm tôi với một ý tốt nên tôi còn ở lại để chờ em.

Tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác khi vị tu sĩ lại tiếp tục nói mà không chờ tôi nói ra điều gì:

– Em thật ngây thơ khi nghĩ rằng có thể đến gặp tôi mà không được sự cho phép trước. Hơn nữa, lẽ ra giáo sư Behari không nên cho em địa chỉ của tôi.

Tôi cảm thấy việc tự giới thiệu mình là không cần thiết nữa, và càng không cần thiết phải hỏi xem tu sĩ này là ai, bởi những lời của ông đã nói lên quá rõ điều đó. Tuy hết sức ngạc nhiên nhưng tôi hơi khó chịu, có cảm giác như bị xúc phạm vì những lời nói thẳng của người. Tu sĩ Ram Gopal – vâng, chính là ông ta – dường như không quan tâm mấy đến những cảm xúc của tôi lúc ấy. Ông tiếp tục nói những gì ông muốn nói, càng làm cho tôi thêm ngạc nhiên hơn nữa:

– Này em, hãy nói cho tôi biết em nghĩ là có thể tìm thấy Phật ở những nơi nào?

Tôi đáp, hoàn toàn là theo lời dạy của thầy tôi:

– Trong tâm tôi, trong tâm ngài và cũng ở khắp mọi nơi.

Tu sĩ cười vẻ mỉa mai:

– Thế tại sao hôm qua em đã từ chối không lễ bái tảng đá trong đền thiêng? Phải chăng vì tảng đá ấy không có hình dáng đức Phật?

Tôi lặng thinh và chợt nhận ra sự sai lầm của mình. Vị tu sĩ nói tiếp:

– Đức tin chân thật không cần thiết phải được biểu lộ qua bất cứ hình thể nào, và vì thế mà nó cũng có thể được biểu lộ qua mọi hình thể. Nếu em đã biết rằng đức Phật hiện hữu ở khắp mọi nơi, thì không có lý do gì để em từ chối bỏ lỡ đi một cơ hội lễ bái ngài thông qua hình thể tảng đá. Nên biết rằng, thậm chí em còn có thể lễ lạy hư không mà không cần có một hình thể nào biểu lộ. Sự kiêu mạn của em, coi thường đức tin của bao nhiêu người khác là một lỗi lầm không thể tha thứ nếu không có sự chân thành hối cải.

Tôi thấy mình không còn gì để biện bạch thêm nữa ngoài việc nhận lỗi. Tu sĩ Ram Gopal thân mật nắm lấy tay tôi dắt đi theo hướng ngược lại trên con đường. Một luồng hơi ấm từ cơ thể người như truyền qua cơ thể tôi. Mặc dù giữa trời trưa nóng bức, tôi chợt thấy vô cùng khoan khoái và mọi sự mệt nhọc bỗng chốc tiêu tan không còn nữa. Vừa bước đi theo người được vài bước, tôi bỗng thấy kinh ngạc đến sửng người lại không sao bước đi được nữa. Trước mắt tôi là một ngôi làng nhỏ nằm bên đường với những túp nhà tranh xinh xắn, người và súc vật đi
lại đông đúc trên những con đường mòn chạy ngang dọc qua lại trong làng. Chỉ mới lúc nãy thôi, tôi đã đi ngang qua đây mà chỉ thấy toàn là đồng trống!

Tu sĩ Ram Gopal có vẻ như rất dễ dàng biết được những ý nghĩ của tôi. Ông nói:

– Từ sáng đến giờ em đã qua lại ngôi làng này đến 5 lần rồi, và tôi cho như thế là quá đủ để dẹp bỏ lòng kiêu mạn của em.

Rồi ông ta dắt tôi đi vào làng, vừa đi vừa nói tiếp:

– Trên con đường học đạo, có thể em phải tìm kiếm cho ra bậc minh sư đầy trí tuệ để nương theo cầu đạo giải thoát. Nhưng một khi đã được chứng ngộ, em sẽ nhìn thấy đạo giải thoát hiển hiện ở khắp cả mọi nơi. Dù em có tìm đến thánh tích Lam-tỳ-ni hay một tảng đá ở ngôi đền tại Tarakaswar, lẽ ra em cũng đều phải chiêm bái với lòng thành kính như nhau.

Giọng nói của vị tu sĩ không còn vẻ trách cứ nữa mà như một lời giải thích ôn tồn, thân mật. Đến đây, ông lại vỗ vai tôi và nói tiếp:

– Này người bạn nhỏ, em đã sai lầm khi muốn bỏ thầy ra đi tìm đến những động đá hoang vu. Thầy của em là một bậc minh sư đã giác ngộ. Em không thể tìm đâu ra một người như thế nếu em bỏ đi lên Hy Mã Lạp Sơn. Hơn thế nữa, những động đá vô tri giác không phải là điều kiện bắt buộc phải có cho sự chứng ngộ của bản thân em.

*Lumbinī (vườn Lam-tỳ-ni): thánh tích nơi đức Phật Thích-ca đản sanh, về sau vua A-dục có dựng trụ đá để ghi nhớ nơi đó, đến nay trụ đá này
đã được tìm thấy.

Và kỳ lạ thay, Ram Gopal lặp lại một cách chính xác điều mà thầy tôi đã từng nói với tôi trước đây:

– Các vị minh sư chứng ngộ không đòi hỏi phải cư trú cố định ở đâu cả, cho dù đó là dãy Hy Mã Lạp Sơn hay bất cứ một nơi nào khác.

Rồi để giải thích rõ hơn, vị tu sĩ nói tiếp:

– Dù là Ấn Độ hay Tây Tạng, sự xuất hiện của các bậc thánh nhân giác ngộ qua nhiều thế hệ cũng không hề có nghĩa là chỉ những nơi ấy mới có được các bậc minh sư chứng ngộ. Con người ở khắp mọi nơi đều mang trong tâm mình hạt giống giải thoát, chỉ cần biết tự tìm lại chính mình thì chúng ta sẽ nhận ra là không cần phải phí công đi đến bất cứ đâu. Trong lịch sử đã có không ít những trường hợp người cầu đạo đi đến cùng trời cuối đất để rồi một ngày kia chợt nhận ra vị minh sư là người luôn ở sát bên cạnh mình.

Lúc này, tôi lặng lẽ tán đồng những lời nói của Ram Gopal, và bất chợt nhớ lại sự gặp gỡ kỳ diệu giữa tôi với sư phụ Śrī Yukteswar ngày trước. Quả thật có biết bao nhiêu điều người ta không sao có thể hiểu được hết với trí óc tầm thường của mình. Ram Gopal bất chợt quay lại nhìn thẳng vào mắt tôi và hỏi một cách thật nghiêm nghị:

– Em có được một căn phòng riêng chỉ mình em sử
dụng chứ?

– Vâng, tôi có.

Ram Gopal nhoẻn miệng cười và nói chậm rãi, dằn từng tiếng một:

– Đó chính là động đá của em, không cần phải tìm động đá nào khác trên Hy Mã Lạp Sơn.

Rồi ông thong thả nói tiếp:

– Chỉ cần em tu tập đúng hướng, đó sẽ là nơi em chứng ngộ, đạt được giải thoát. Còn nếu em mãi nuôi ảo tưởng như hôm nay, cho dù em có ngồi giữa tuyết lạnh trên Hy Mã Lạp Sơn cho đến muôn đời cũng sẽ chẳng ích lợi gì.

Những lời giản dị mà dứt khoát của vị tu sĩ như chợt làm cho tôi bừng tỉnh. Giấc mộng lên núi tuyết mà tôi ôm ấp từ thuở bé đến nay tan nhanh đi cũng như băng tuyết dưới ánh mặt trời.

Tu sĩ Ram Gopal chỉ tay vào một mái nhà tranh ở phía trước và ra hiệu cho tôi là đã đến nơi. Vừa nắm tay tôi dẫn vào nhà, người vừa nói tiếp:

– Này bạn nhỏ, tấm lòng cầu đạo của em rất mạnh mẽ và có phần nào rất giống với chính ta ngày trước. Ta rất mến em.


Chúng tôi cùng ngồi dưới một mái hiên thoáng mát để dùng nước. Ông mang cho tôi một ly nước chanh, còn ông dùng nước lọc. Sau một lúc chuyện trò, ông để tôi ngồi ở mái hiên, còn ông sang một góc nhỏ bên chái nhà để ngồi thiền.

Trong đầu chất nặng những ý tưởng mới vừa tiếp nhận từ vị tu sĩ này, tôi cũng tự mình ngồi yên nhập vào thiền quán để chiêm nghiệm. Trong suốt bốn giờ đồng hồ sau đó, chúng tôi không còn ai để ý đến ai nữa cả.

Khi tôi ra khỏi cơn thiền định, ánh trăng chiếu sáng rõ vì mặt trời đã lặn mất từ lâu. Khí lạnh ban đêm làm tôi dễ chịu, nhưng cảm giác mạnh mẽ hơn của tôi khi trở về với cuộc sống vật chất này là cơn đói cồn cào. Tôi đã không ăn uống gì suốt ngày hôm đó trừ một ly nước chanh ban chiều, với vị chua càng làm cho bao tử tôi thêm khó chịu hơn nữa. Dưới ánh trăng, tôi nhìn sang và thấy Ram Gopal vẫn còn ngồi bất động. Tuy nhiên, tôi không phải sốt ruột chờ lâu. Chỉ trong phút chốc ông đã vươn vai đứng dậy và đi về phía tôi.

– Ta biết em đang đói. Chúng ta sẽ cùng dùng cơm trong chốc lát nữa thôi.

Ông loay hoay nhóm lửa lên trong một cái bếp lò bằng đất nung. Tôi tự nghĩ không biết phải chờ đợi bao lâu trong cơn đói sốt ruột này, khi mà giờ ông mới bắt đầu nhóm lửa thổi cơm. Nhưng thật kinh ngạc biết bao khi ngay cả ý nghĩ lo lắng đó của tôi còn chưa kết thúc thì Ram Gopal đã từ phía bếp lò đi lại với một mâm cơm tươm tất. Tôi nhìn thấy có cơm và súp đậu nấu với một vài món ăn khác. Tôi tự hỏi không biết ông đã làm sao để nấu xong được chừng ấy thức ăn trong một khoảnh khắc mà tôi còn chưa kịp nghĩ đến.

Đặt mâm cơm xuống trước mặt tôi, ông nói:

– Ta biết em có một đức tin khá vững vàng, nhưng có lẽ còn lâu lắm em mới chấp nhận được rằng thế giới vật chất này chẳng có một định luật nào có thể chi phối được những bậc giác ngộ.

Tôi hiểu được hàm ý trong lời nói của tu sĩ, vì người hẳn đã dễ dàng nhận ra vẻ mặt kinh ngạc của tôi. Chúng tôi cùng ăn cơm trong im lặng. Bữa ăn rất ngon và tràn đầy ân phước mà mãi mãi về sau tôi không sao quên được. Đêm hôm đó, tôi ngủ trên một tấm nệm cũ trải trên sàn nhà vì căn nhà nhỏ không có giường. Chủ nhân của nó không hề có nhu cầu sử dụng đến thứ tiện nghi này. Tôi hiểu điều đó vì suốt đêm Ram Gopal ngồi trên chiếc tọa cụ bằng rơm của ông, không hề ngả lưng nằm nghỉ một chút nào.

Sáng hôm sau, tôi kính cẩn thưa với tu sĩ Ram Gopal những lời này:

– Bạch thầy, những kinh nghiệm tâm linh của thầy quả thật là vô giá đối với con. Xin thầy mở lòng từ bi truyền dạy cho con phép thiền định mà thầy đã thực chứng.

Ram Gopal nhìn tôi với ánh mắt hiền từ đầy cảm thông:

– Ta hiểu lòng của con, và ta cũng sẽ rất lấy làm sung sướng thu nhận được một người đệ tử như con. Nhưng điều đó không cần thiết nữa, bởi vì con đã có một vị tôn sư còn cao cả hơn ta rất nhiều.

Dừng một chút như để tôi kịp hiểu hết những lời đã nói ra, rồi vị tu sĩ mới nói tiếp:

– Vấn đề là sự chuẩn bị tự thân của chính con để tiếp nhận những tri thức được truyền trao từ một bậc thầy đã chứng ngộ. Điều đó có thể thấy rõ qua sự thay đổi tâm trạng của con từ khi mới gặp ta cho đến lúc này. Nếu con không sẵn sàng tiếp nhận, không một bậc tôn sư nào có thể giúp con đạt đạo cả.

Trầm ngâm trong giây lát, vị tu sĩ nói tiếp:

– Có một điều mà ta không thể không thú nhận với con là chính ta vẫn còn đang miệt mài trên đường cầu đạo. Những gì ta đạt được chưa phải là đã đủ, và chưa mang lại cho ta sự giải thoát hoàn toàn.

– Bạch thầy, nhưng con nghe nói thầy đã trải qua nhiều năm công phu tu tập.

– Đúng vậy, nhưng điều đó không có nghĩa là ta đã chứng ngộ hoàn toàn. Mặc dù những kết quả ta đã đạt được là không thể phủ nhận, nhưng con đường sắp tới cũng vẫn còn đầy gian nan vất vả.

Dừng một chút như để nhớ lại quá khứ, rồi người cất giọng đều đều kể lại:

– Ta đã trải qua 20 năm tu tập thiền định đầu tiên trong một hang đá cô tịch, mỗi ngày trung bình là 18 giờ đồng hồ. Sau đó, ta tìm đến một động đá xa xôi hẻo lánh hơn nữa để chuyên tâm tu tập trong 25 năm tiếp theo, mỗi ngày khoảng 20 giờ đồng hồ trong thiền định. Sau giai đoạn này, ta không cần phải ngủ như người thường, vì ta tìm được sự nghỉ ngơi cho tinh thần và thể xác ngay trong khi thiền định tỉnh giác. Hơn
thế nữa, ta đã khám phá ra rằng giấc ngủ hoàn toàn không còn có lợi cho những kinh nghiệm tâm linh của ta. Trong giấc ngủ, một số bộ phận cơ thể quả thật có được nghỉ ngơi, nhưng còn nhiều bộ phận khác vẫn phải hoạt động bình thường. Đôi khi, bộ óc còn phải làm việc căng thẳng hơn cả bình thường nếu còn ôm ấp một suy tư nào đó vào giấc ngủ. Ngược lại, trong trạng thái nhập định và đạt đến sự buông xả hoàn toàn, cơ thể ta thật sự được nghỉ ngơi trong sự tỉnh thức. Ta rõ biết mọi việc diễn ra trong nội tâm cũng như bên ngoài ngoại cảnh, nhưng lại hoàn toàn buông xả không vướng mắc bất cứ sự việc gì. Trong trạng thái đó, người ta không bao giờ mệt mỏi mà ngược lại còn có thể hồi
sức rất nhanh nếu như trước đó đã phải làm điều gì mệt nhọc. Ta đã trải qua nhiều năm như vậy rồi, vì thế những người quen biết ta đều gọi ta là “vị tu sĩ không ngủ”.

Tôi rất ngạc nhiên khi nghe được những lời này. Không giấu được sự hoang mang, tôi buột miệng hỏi ngay:

– Bạch thầy, công phu tu tập của thầy như vậy, dù suốt đời cũng chưa chắc ai theo kịp. Như vậy mà thầy còn chưa đạt đến sự chứng ngộ hoàn toàn, vậy thì những kẻ mới nhập đạo như con đây làm sao dám có chút hy vọng gì?

Ram Gopal nhìn tôi, bật cười hồn nhiên như trẻ con:

– Con thật dại dột. Vậy ra con tưởng rằng có thể đạt đến sự chứng ngộ hoàn toàn sau bốn hoặc năm mươi năm công phu tu tập hay sao? Tuy nhiên, con cũng đừng vội thất vọng. Chính ngay khi con bắt đầu công phu tu tập đúng hướng, là lúc con đã bắt đầu cảm nhận được sự giảm nhẹ những khổ đau và tiến dần đến một đời sống thanh thoát không hệ lụy. Hiểu được điều đó, con mới có thể vững bước trên đường tu tập mà không chán nản, thất vọng, nhưng đồng thời cũng không còn nuôi ảo tưởng sẽ đạt được chánh đạo chỉ bằng vào sự cố công trong một thời gian hạn hẹp của cuộc đời này.

Đến đây thì tôi đã hiểu ra được những điều tu sĩ muốn truyền đạt. Tuy rất ngạc nhiên, nhưng tôi cũng nhận ra là những điều này đã xóa tan rất nhiều ý tưởng ngờ vực trong tôi từ lâu nay. Chúng tôi tiếp tục câu chuyện trao đổi mà bản thân tôi phải thừa nhận là càng lúc càng thấy lý thú hơn. Ram Gopal kể cho tôi nghe về dịp gặp gỡ của người với đức Babāji, sư phụ của thầy Lahiri Mahāsaya. Tôi vui mừng mà ghi nhận những mẩu chuyện kể của người như những kinh nghiệm tâm linh vô giá mà tôi rất cần đến trên đường học đạo.

Tôi quyết định lưu lại Ranbajpur thêm một đêm nữa với vị tu sĩ không ngủ này. Và trong suốt đêm thứ hai dưới mái nhà tranh kỳ lạ này, chính tôi cũng không hề ngả lưng nằm ngủ chút nào. Tôi tập trung tinh thần ngồi thiền quán suốt đêm như Ram Gopal. Điều kỳ lạ là đến khoảng nửa đêm thì tôi có cảm giác như đêm tối không còn hoang vắng nữa. Tôi cảm nhận rất rõ ràng một mối quan hệ giữa tôi với vị tu sĩ đang ngồi bên kia
bức vách đất, như thể chúng tôi chỉ là một cơ thể thống nhất với nhau. Tôi thấy tâm hồn mình vô cùng sảng khoái và cảm nhận những luồng ánh sáng diệu kỳ tỏa ra từ thân thể của vị tu sĩ như những hào quang của chính mình. Hơn thế nữa, đến khoảng gần sáng thì tôi cảm nhận được cả thầy tôi, đức tôn sư Śrī Yukteswar đang ngồi thiền ở cách tôi hàng trăm cây số tại tu viện của người. Tôi như đọc được ý tưởng của người trong im lặng:

 “Này con yêu dấu, ta không trách mắng con vì sự dại dột của con khi đã cãi lời ta. Đó là việc vẫn thường xảy ra cho những kẻ sơ cơ học đạo. Ta sẽ dắt dẫn con tiếp tục con đường mà chúng ta đã hứa hẹn với nhau từ muôn kiếp trước là sẽ cùng nhau dấn bước.”

Sáng hôm sau, trước khi từ biệt tôi kể lại những điều đã cảm nhận trong đêm qua cho Ram Gopal nghe. Vị tu sĩ cười và nói:

– Ta hy vọng là con hài lòng về món quà ấy của ta và sẽ không thấy hối tiếc vì đã phải vất vả tìm đến đây. Con hãy vững tin đi, một ngày kia rồi con sẽ có thể tùy ý đạt đến những kinh nghiệm tâm linh như thế mà không cần đến sự giúp sức của ta như đêm qua.

Khi ấy tôi mới hiểu ra được chuyện gì đã xảy ra. Thì ra chính nhờ sự trợ lực của vị tu sĩ không ngủ này mà tôi đã bất ngờ đạt đến một kinh nghiệm tâm linh mà lẽ ra phải nhiều năm sau tôi mới có thể tự mình đạt đến. Tôi thầm cảm ơn người vì điều đó làm củng cố rất nhiều niềm tin trong tôi. Tôi thành kính quỳ xuống hôn hai bàn chân của ngài để tỏ lòng tôn kính và quyến luyến trước khi chia tay, và người cũng dùng tay xoa
đầu tôi như một cử chỉ yêu thương, khuyến khích mà các vị tôn sư thường ban cho đệ tử khi hài lòng với sự tu tập của họ.

Sau khi chia tay với vị tu sĩ không ngủ, tôi đi bộ băng đường rừng để trở lại Tarakeswar chỉ trong chưa đầy hai giờ đồng hồ. Vừa vào đến thành phố, tôi quay trở lại ngôi đền thiêng và thành kính lễ bái như một lời sám hối. Tôi cảm thấy không phải mình đang quỳ lạy một tảng đá nữa, mà như có cả mười phương chư Phật đang chứng giám cho tấm lòng thành kính hối lỗi của tôi.

Khoảng một giờ sau, tôi đã hân hoan ngồi trên xe lửa trở về Calcutta. Nhiệt tình cầu đạo của tôi giờ đây không hướng đến Hy Mã Lạp Sơn xa xôi hoang vắng nữa, mà lại hướng về dưới chân sư phụ Śrī Yukteswar, bậc tôn sư mà giờ đây tôi đã hiểu là có sự gắn bó với tôi bằng tiền duyên từ bao đời trước.

C97: Anabaptist 5

Anabaptist 5:

Chương 24: Con bò trong cửa hàng Trung Quốc (Lời của tác giả Peter Hoover)

Thành phố của những bài ca quây quanh những tu viện Benedictine ở Monchen-Rhein, Germany. Từ lâu trước khi có sự xuất hiện của Anabaptist nơi này. Thánh nhạc đã ngân vang trong nhà thờ đá có mái vòm. Giữa những năm 1530, người Anabaptist bắt đầu bí mật cất lên những tiếng hát tại nhà của họ thay vì đi nhà thờ hát. Sự "ngạo mạn" này không thể che giấu lâu được.

Mùa đông năm 1537, một người Anabaptist bị bắt tên là Vit Pilgram. Sau nhiều tháng tra tấn tàn bạo, Vit vẫn không hối cải, vì thế họ đã trói anh vào cột thiêu sống, dưới cằm còn buộc một bao thuốc nổ để anh không nói được lời gì nhiều trước khi chết. Sau đó, họ lại bắt được Theunisz van Hastenrath, bồ câu đưa tin Anabaptist đầu tiên đến nơi này, giết luôn. Lập tức có người thay thế Theunisz, là một người làm túi, tên Lambert Kramer.

Lambert yêu Christ và dũng cảm lấy chính nhà mình làm nơi tụ điểm cho hội, là nơi mở cửa cho Menno Simons. Chính quyền năm lần bảy lượt sờ gáy Lambert song bằng cách nào đó Lambert vẫn còn sống. Người bạn đồng hành của Lambert là một người làm than, tên Zelis Jacob. Zelis dĩ nhiên cũng yêu Christ vô hạn, dũng cảm tuyên bố tình yêu ấy với bao người. Năm 1560, hai người bạn nữa gia nhập tên là Matthias Servaes và Heinrich von Krufft. Họ được huấn luyện để trở thành những bồ câu Anabaptist tiếp theo, thế cho những ai đã ra đi. Họ hát hàng đêm và cầu nguyện trái phép. Matthias và 56 người khác rơi vào tay chính quyền năm 1565, nhưng những bài ca của họ rơi những nốt buồn khi tin tức về một điều gì khác tệ hơn cả cái chết đến tai họ.

Sự chia rẽ trong cộng đoàn

Dần dà, những tín hữu ở Monchen-Gladbach nhận ra sự thay đổi xấu đang đến, giữa những Anabaptist ở Netherlands. Báo cáo về những tuyệt thông (excommunication) bất chợt, những xa lánh (shunning) hà khắc. Mọi mối quan hệ thân giao giữa những người Anabaptist rơi vào ngõ cụt, chỉ vì những lý do tầm thường không đáng kể. Họ dùng tuyệt thông như một giải pháp nhanh chóng để đối mặt với mọi thứ cần cải thiện giữa anh em, chẳng phải vì cớ tội lỗi có bằng chứng rõ ràng gì mà bỗng xa lánh nhau. Bất cứ ai hoài nghi về bất cứ quyết định nào từ hội đồng trưởng lão - lãnh đạo - cấp trên của hội Anabaptist (trưởng lão kỳ cựu nhất là Menno Simon), thì sẽ bị gán nhãn "có nguy cơ đã rơi vào tay Satan".

Chuyện về vùng Franeker là một ví dụ. Vùng ấy người ta rất đói - đói lời thật của những người đưa tin Anabaptist những năm 1530. Đông những tín đồ này tụ tập sau những cánh cửa bí mật, bên ngoài có cả người trong nhà ra canh gác đề phòng. Hơn 600 mạng đã gia nhập liên minh ở Franeker này. Cộng cả trẻ em thì lên tới 1000 linh hồn. Nhưng Satan làm tất cả để gây sự. Ấy là sự tuyệt thông!

Một bồ câu đưa tin bị tuyệt thông bởi cấp trên, vậy là hết trợ cấp, hết liên lạc, hết mọi kết nối với những anh em khác. Khi Matthias Servaes vẫn ở trong tù, Lambert Kramer và ba anh em lên đường tới Wustenfelde, 300 dặm về phía bắc để làm rõ đầu đuôi câu chuyện. Họ tới thẳng nhà Menno Simons. Lambert đã nể trọng và trở thành bạn của Menno Simons nhiều năm trước. Tới nơi, họ thảo luận vấn đề Vạ Tuyệt Thông này, khi nào nên và khi nào không nên dùng. Những lãnh đạo khác cũng tới chia sẻ quan điểm.

Trở về, Lambert vẫn nghĩ không thông về việc tuyệt thông ấy. Sao một việc to tát như thế có thể được nói ra dễ như bỡn?! Có gì đó không phải ở đây. Có bằng chứng nào đâu về tội lỗi, mà nói rằng "đã vào tay Satan" nên phải tuyệt thông, và kể như người ta đã hối cải thì sao nữa? Có đúng khi yêu cầu một sự chia rẽ khắc nghiệt đến vậy? Giữa vùng Dutch, kẹt giữa những anh em từ Switzerland và nam Đức, giữa những tuyệt thông vu vơ từ lãnh đạo, các tín hữu khắp Rhein bắt đầu chia cách. Lambert và Zelis bị tuyệt thông bởi Menno Simons khi đến hỏi ông vì sao phải có sự tuyệt thông.

- - -

A Đường tóm lại một chương rất dài dòng rách việc với quá nhiều chi tiết rườm rà. Hắn nói bằng chất giọng ngôn tình để người đọc hiểu vắn tắt từ đây.

Anabaptist khởi sự trong ngọn lửa đam mê thiên quốc. Ban đầu chỉ là một đốm lửa, rồi nhóm lại thành to, chẳng thể dập nổi một khi nó đã cháy bùng bùng. Vai trò của cấp trên, lãnh đạo, hội đồng nguyên lão kỳ thực không hề là chính yếu. Mà chính những đốm lửa, những người sẵn sàng cháy hết mình, cháy lây lan khắp khắp... Những mồi lửa từ tâm những người Anabaptist mới là quan trọng, quyết định sống còn của cuộc vận hà thiêng liêng ấy.

Nhưng có một lão già đầu rồi mà còn ngu tệ! Tên là Menno Simons. A Đường hận sự ngu xuẩn của lão già này đến độ muốn quẳng cả cuốn sách đi chỉ vì đọc từ đầu đến cuối lúc nào cũng thấy trích dẫn những thủ bút của lão. Cái lão cao đồ ngu xuẩn đó, Menno Simon, không biết lão ta ăn phải cái vạ gì mà đến chết rồi còn bị Satan ngu dụ. Vẫn phải mổ xẻ sự ngu của lão ra để giải phẫu. Vì sao cuộc vận hà yêu thương đang hồi hấp dẫn thì như bị tạt cả biển nước lạnh và lụi tắt.

Lão già cao ngạo, hèn nhát, chỉ được cái tài văn vẻ kích động quần hùng. Menno Simons đứng sau hậu trường, sau lưng tất cả những bồ câu đưa thư, tất cả những người bị bức hại đến đường cùng, đến chết. Mà lão thì vẫn sống nhăn răng ra đó, vẫn tiếp tục kêu gọi, hô hào, cổ động, cứ như thể những con số chết chóc ấy chỉ là quân tốt trong bàn cờ của lão.

Lão là cao đồ sáng lập hội ai cũng biết. Lão quản lý bồ câu, thích đưa bồ câu nào đến đâu, đưa bao nhiêu bồ câu là do "nhà thờ vô hình" chỉ đạo, mà cuối đời, lão coi lão chính là đường lối, là "đạo" của nhà thờ đó. Vốn từ đầu chính lão chủ trương không cần nhà thờ, không cần chỉ đạo, tất cả đều là anh em đồng đẳng hết như Jesus nói. Thư lão viết hay lắm, nhưng càng viết càng lộ rõ sự sáo rỗng trong từng câu cú lặp lại. Càng đến cuối, lão càng lộ mặt thật, chính lão là một kẻ ham quyền, ham lãnh đạo, ham sức ảnh hưởng. Bất cứ ai không nhất chí, thậm chí chỉ cần nghi vấn quyết định, chỉ đạo của lão, thì lão sẽ "TUYỆT THÔNG - KHAI TỬ" khỏi mạng lưới Anabaptist.

Tự lão muốn xác lập cái quyền hành ngu xuẩn như vậy! Bốn năm người khác trong "hội đồng nguyên lão" của Anabaptist cũng theo gương đó mà chia bè chia phái. Thi nhau xem ai là kẻ hay ho giỏi giang hơn. Những anh em bên dưới phải theo huynh trưởng. Mấy vị đại ca, huynh trưởng tách nhau, thì lũ đàn em cũng tách nhau. Đang chung chia nguồn ân điển, phúc lành, tiền bạc, trợ cấp, buồn vui, sinh tử, bao hợp nhất đại đồng, bao linh hứng thiêng khởi, cùng bao "Tín Thí" cúng dàng lên chung quỹ. Thì bây giờ chia tách ra thành trăm mảnh, tan đàn xẻ nghé hết chỗ nói. Mà ngu ngục ở điểm là chính Đại Trưởng Lão Menno Simons là kẻ đề ra cái "án" TUYỆT THÔNG gở chết này. Đề ra được vài tháng thì lão chết. Cái đầu đấy rõ ràng là bị chỉ điểm của Satan tâm kế.

Satan bảo:

Menno Simons hỡi, ông phải ra tối hậu thư, để "chấn chỉnh" đường lối, làm một cái barem điểm chuẩn cho đạo Anabaptist đi. Chứ kiểu này loạn quá, chết như ngóe thế này không phải là cách hay đâu. Chưa kể, tiền bạc rồi bao nhiêu vấn đề vợ chồng chung đụng nhau như vậy. Nghĩ đến đã hoảng rồi, ông thấy những người còn sống có phải là vẫn khổ lắm không? Nước trời - thiên đàng cái kiểu gì cũng phải có quy củ, luật lệ cả!

Đã vậy, ông là người làm luật, chế luật cho "bọn nó". Ông coi tất cả như con đẻ. Giờ chúng nó chết như ngả rạ, ông có thấy vui không? Cái chết để vào nước trời thì đúng đắn lắm, nhưng cái chết toàn triệt phần bản ngã của những kẻ còn sống thì thế nào? Chúng tự coi chúng hơn cả "lãnh đạo" rồi. Chúng coi chúng hơn cả kẻ đã "khai sinh" ra chúng, trợ lực, nuôi nấng chúng... Ông xem, bây giờ ông là cha chúng, ông làm thế nào trước khi lìa đời để dạy chúng đây?!

Menno đăm chiêu nghĩ mãi không ra cách giải, cuối cùng chốt:
"Đứa nào không nghe tao, tao tuyệt thông, cạch mặt, khai trừ khỏi Đảng. Đứa nào không nghe tao, đứa đấy khéo mà theo Satan cả. Tao muốn bảo vệ chúng nó khỏi Satan. Không nghe tao thì không cha con hội nhóm gì nữa sất. Chấm hết!"

Satan càng cười duyên! Đúng đúng, càng sợ cái gì thì càng phải bị chính cái đấy ám trước. Chính Menno Simon đã từng rất sợ bị "vạ tuyệt thông" bởi giáo hội mà lão đã tự ý li khai khỏi, từ những ngày đầu tiên lão là linh mục đàng hoàng. Cái từ TUYỆT THÔNG này cứ lởn vởn quanh lão mãi cho đến khi chính lão xuống tay hạ bút viết thư đưa lệnh, ban chiếu chỉ khắp Châu Âu mới thôi. Vậy là Satan mãn nguyện. Bất cứ tổ chức nào, dù là thiện hay ác, thì đều phải bị đánh sập từ bên trong chính nó. Tan vỡ từ nội bộ mới là cái tan vỡ lý tưởng, diệu kế nhất đối với Satan.

30 năm sau cái chết của Menno Simons, hầu hết những Anabaptist ở Dutch đã năm lần bảy lượt bị tuyệt thông bởi chính những anh em mình, những kẻ tự khẳng định quyền to hơn - là anh, hay là chị... Anh chị em cứ vậy mà tuyệt thông nhau sau bao lần vào sinh ra tử cùng cùng.

Mấy trăm năm sau cái chết của Menno Simons, hậu thế Anabaptist vẫn lùng bùng lằng nhằng, ngu xuẩn bên những cái luật tự chế, những giới hạn tự định, tự thiến lẫn nhau. Anh em vẫn kì kèo nhau mày phải nghe tao, nếu không tao từ mày. Cha mẹ vẫn từ mặt con chỉ vì con không muốn vậy. Rồi cả cộng xã hò nhau "cạch mặt / tuyệt thông" một kẻ, chỉ vì kẻ ấy không nhất chí quan điểm/ đường lối chung của xã, hay chỉ vì kẻ ấy dám phản biện lại trưởng làng. Trưởng làng được bầu ra, từ đầu là một vị giản dị khiêm tốn, song chẳng bao lâu lại được hay bị khoác áo "Giáo hoàng" trong mắt tất cả. Vậy là vẫn theo vết xe đổ của trần gian.

Anabaptist trở thành trò cười cho "nhà thờ mẹ" / Giáo Hội Công Giáo không cần phải nghĩ cách tiêu diệt hay trấn áp họ làm gì nữa. Những cộng xã Anabaptist ngày nay vẫn tồn tại nhưng chỉ như những Samson đã mất đi sức mạnh và bị mù, phải làm nô lệ trong nhà ngục tầm thường. Hậu duệ của Anabaptist ngày nay vẫn tự hào mà gọi chính mình là những Mennonites (con cháu của Menno). Bất kể sai lầm của Menno Simons có nghiêm trọng đến đâu, họ vẫn khắc ghi những dòng chữ truyền đời của Menno viết từ một thời máu lửa huy hoàng. Họ vẫn tự hào về những điều đó.
 
Vậy mới biết, cái đầu quả thực là quan trọng. Đầu tàu, đầu người, đầu đạn, đầu tình ...

Như những cuộc tình đầu ... lâu xương trắng, là kiếp người mong mãi hợp nhất linh hồn vô cùng, hợp nhất thiêng liêng vô hạn. Khi Ngã, God vẫn ở rìa mép vực thê thảm, sẵn sàng nâng đỡ ai ai hồi đầu. Khi Vô Ngã, God vẫn vô cùng vô hạn truyền tâm. Chẳng bao giờ có "tuyệt" đường "thông" đạo.