Anabaptist 4:
Những cái click chuột nhanh chậm, những phím gõ đều đều. Nào là nơi cao nguyên lặng gió của hồn. Khi đầu rơi chỉ là dĩ vãng, máu chảy đã xanh cây đời. Hắn và nàng, thiện và ác, đến một ngày nào sẽ bình tâm ngồi chơi xơi nước, bình lặng nhìn những ký ức xưa, sai lầm nọ, chỉ như những đám mây đen ngang trời. Rồi trong cơn giông Phong Thần sóng, có mấy kẻ vẫn bình chân như vại, tâm vẫn nhàn, bất ngoại thần trì, cảnh vẫn như trùng trình bảng lảng một nơi nao. Người ta chạy mưa tránh bão, có kẻ chịu chơi chẳng sợ mưa rơi, lại thích lao đầu vào giông bão, để rồi đứng đó hay an tọa giữa cuồng phong đất trời, mà tóc rũ tung bay, mà niệm niệm trì trì, miên man âm gọi... !
Chương 23: Những sai lầm nghiêm trọng
Hầu như ai cũng thích Ludwig, ở Thurgau. Ludwig là một học sinh giỏi có hạnh kiểm tốt. Cũng như nhiều thanh niên đồng lứa xuất thân trong những nhà khá giả, anh học tiếng Latin, Hy Lạp, Hebrew. Thầy dạy đã phát hiện tài năng ngôn ngữ nơi anh, khi 17 tuổi anh học triết ở đại học Basel. Càng học những công trình học thuật kinh điển như Kinh Tân Ước, Ludwig càng trở nên say mê đời sống Christ. 20 tuổi, anh chọn trở thành mục sư, và được đưa tới một thành phố đẹp là Konstanz, gần hồ nơi giám mục ở. Khi đang phụng sự như một giáo sĩ trẻ ở Wadenswil phía nam Zurich, ý muốn biết thêm nhiều về Christ dẫn Ludwig tới những sự kiện xảy ra trong phố. Tài năng viết lách của anh được nhìn nhận và tôn trọng, năm 1524 anh được giao phận sự (commission) đầu tiên: phiên dịch cuốn sách từ tiếng Latin cho sự truyền bá Phúc âm tới người Do Thái. Anh làm tốt quá, chưa kịp xong việc thì lãnh đạo lại giao tiếp việc khó hơn: dịch cuốn Kinh Thánh sang tiếng Đức.
Ludwig tới Augsburg, Bavaria để làm việc với những học giả ở đây. Họ chia cho anh công việc phần Thi Thiên. Việc hăng say, Ludwig dùng thẳng những bản cổ ngữ Kinh Thánh bằng tiếng Do Thái để dịch sang tiếng Đức. Anh gặp tất cả những nhân vật quan trọng ở Augsburg và được mời tới nhà một đôi vợ chồng tên Georg và Anna Regel. Họ yêu mến anh như con đẻ. Anna dành nhiều giờ hướng dẫn anh việc dịch sách. Còn Regel luôn tiếp những người bạn đặc biệt. Chẳng bao lâu anh phát hiện những người Anabaptist thường ghé thăm nhà này. Một đêm, chính quyền ập tới bắt dữ, Ludwig trốn thoát và trở lại Zurich song vẫn tìm cách giữ liên lạc với đôi vợ chồng nọ. Những day dứt về Anabaptist khiến Ludwig cuối cùng cũng bị cuốn vào đường lối của họ. Ở Strabourg anh gặp Hans Deck và kết bạn thân với người này. Hans Deck là một Anabaptist có học vở thuần thành, Ludwig đi theo Hans và bỏ lại phía sau mọi sách vở học thuật và địa vị. Họ di chuyển khắp nơi, dịch thêm những chương trong Cựu Ước. Họ trở nên nổi tiếng và chính quyền trục xuất họ khỏi những nơi tới. Ludwig trở về quê, nhưng không ngờ lãnh đạo đã phát hiện ra một tỗi lỗi tưởng rằng chỉ có mình anh biết.
Vài năm trước, khi còn ở Basel, Ludwig thường ngụ tại nhà những người giàu có và học thức. Khi ấy có một cô hầu gái trẻ đã đổ cả cây si vô vọng với anh. Đầu tiên Ludwig không tỏ ra quan tâm đặc biệt gì, nhưng dần dần chuyện khó tránh khỏi cũng đến, khi cô mời anh tới phòng cô một đêm nọ. Anh đã đầu hàng thể xác mình. Chỉ có vậy, không ai nghi ngờ gì. Một nhà phiên dịch tài ba cuốn Kinh Thánh, một tín hữu nhiệt lòng, và mối tình đầu với nàng hầu, được quy là gian dâm (thông dâm - với gái chưa chồng). Tưởng rằng chỉ hai người biết, song Ludwig ngạc nhiên khi lãnh đạo tới thăm mang theo bản án gian dâm này. Cô gái đã thú tội, và Ludwig không thể chối cãi. Nhưng anh là một người dịch kinh, nhân tài có phẩm hạnh, được cả những người Anabaptist nể trọng, vụ việc này vỡ lở khiến anh như rơi xuống vực. Anh vẫn trốn chính quyền, vẫn tiếp tục viết lách và dịch thuật, cuối cùng bị bắt ngày 28/11/1528. Bị tuyên án gian dâm. Ludwig vào tù nguyện tội và viết các bài ca. Trong cảnh ngộ bẽ bàng và buồn đau, anh viết 8 khúc nhạc thánh ca tuyệt vời. Những anh em Anabaptist thường dùng những bài hát ấy, và cả bài thơ này, kết thơ là:
"Tình yêu sẽ chẳng bao giờ là không. Tất cả đều có cái kết nhưng tình yêu thì không. Chỉ tình yêu còn mãi. Tình yêu mặc áo cho chúng ta trong hôn lễ của God. God là Tình Yêu, Tình Yêu là God. Ngài giúp ta ra khỏi mọi đau buồn, ai sẽ đưa ta rời xa Ngài? Tri thức nổi phồng, còn Tình yêu xây dựng. Bất cứ điều gì được làm không vì yêu thì đều hoại diệt. Ôi Tình yêu! Cầm tay dẫn lối ta, buộc ta lại bên nhau. Tình giả ngụy dối lừa cũng có. Amen."
4 tháng 2, 1529 Ludwig Haetzer bị điệu ra quảng trường Konstanz. Tại đây anh bình tâm đi tới cái chết. Anh nói với đám đông về tội gian dâm, hối cải, và trở về. Người ta thương hại anh. Ludwig còn trẻ và đẹp, tài năng của anh không ai nghi ngờ. Nhưng họ chỉ có thể nhìn một cái đầu học giả lại rơi xuống.
Lỗi giảng dạy
Những người Anabaptist ở Dutch và German không tin rằng Jesus có thể xác bình thường, mà tưởng rằng ngài là một thực thể tinh thần nào đó. Những lời giảng bất nhất với chính thống giáo luôn gây ra chia rẽ thường trực. Rồi vấn đề về thuế, một số Anabaptist tin rằng việc trả thuế đầy đủ là tốt, một số lại không đồng tình. Nữa là vấn đề về hôn nhân. Không phải là hiếm khi thấy người Anabaptist một khi "ngộ đạo" là mất vợ mất chồng. Chồng bỏ vợ, vợ bỏ chồng vì yêu làm sao được cái đám trái pháp luật như vậy. Người Anabaptist nhấn mạnh rằng hợp nhất của những người tin Christ thì đáng trọng hơn là sự hợp nhất giữa vợ và chồng. Đủ sự vụ lằng nhằng diễn ra xung quanh việc vợ chồng trong hiệp hội, như việc tái hôn cũng gây nhiều phê phán.
Sự nhấn mạnh không đáng
Xu hướng khổ hạnh phát triển trong phong trào Anabaptist đến nỗi nó trở thành khuôn mẫu (pattern) dập khuôn đời sống của hậu nhân họ, những người Amish. "Cái này không phải là quá đẹp sao?" là câu hỏi tôi thường nghe không biết bao lần suốt từ bé đến lớn ở Ontario. Bất cứ cái gì từ quần áo đến nhà cửa, bếp nồi, bàn ghế, hay chuồng ngựa. Nếu nó "quá đẹp", trông quá sang, quá "bề ngoài", đều được coi là thứ thuộc về trần gian.. thì sẽ bị khiển trách bởi những người anh em - mà đại diện là trưởng lão của cộng đồng.
Đồng hóa cái gì đẹp với cái gì ác xảy ra vào thế kỷ 16. Nhà tiện nghi, quần áo đẹp, cuộc sống dễ dàng? Tất cả chúng đều thuộc về "trần thế". Chỉ những tù ngục, trốn chạy, hành hung, buồn khổ, sầu đau, lo sợ là những gì xứng đáng dành cho những người theo đạo Christ chân thực. Ấy là tư duy lâu dài của người Anabaptist xưa nay. Họ sống trong một thời kỳ áp bức lực đến độ không khí bên kia sự chết mới là lý tưởng tột cùng. Họ không có thời gian để đùa cợt hay giải trí ngơi nghỉ (recreation). Đầu tiên thì chỉ là vì cấp thiết, sau đó thì là luật khổ hạnh. Họ lược đi mọi thoải mái bình thường của đời. Ở Thụy Sĩ, người Anabaptist còn xử phạt giáo đoàn ca hát vì sự nhượng bộ phù phiếm đối với giác quan.
Hầu hết những lãnh đạo Anabaptist đều đã từng học thức cao ở Châu Âu, song họ từ bỏ học vấn và tất tật những kiến thức liên quan. Cũng vậy, họ muốn đảm bảo con em mình cũng không màng, không có cách nào tiếp cận được chúng. Người Anabaptist sau này đều chủ trương chỉ học lên lớp 8, biết đọc biết viết và làm tính cơ bản là xong.
Những người Anabaptist trở thành những lữ khách hành hương, khách lạ - theo nghĩa đen mà nói với thế giới này. Theo Christ rồi, không gì thuộc về trần gian còn quan trọng với họ. Bị đuổi đi khắp nơi, con cái họ tha hương cầu thực. Họ ngủ trên rơm rạ và nền đất, trên núi trên rừng. Họ nói những ngôn ngữ thô vụng và ăn mặc cũng tự cấp tự túc. Chỉ trong vài thế hệ, sự khắc khổ (austerity) đã giới hạn họ - đặc biệt là những người ở Thụy Sĩ và Friesland, Groningen, quanh biển Baltic. Họ khép mình với thế giới, tâm trí họ tập trung trong những nhóm làng thôn quê, họ không mở cửa cho những người hoán cải xa lạ.
Những tiên tri giả
Khi có thể tự đọc và hiểu Kinh Thánh, những người Anabaptist bắt đầu xem những tiên tri của Daniel và chương Khải Huyền. Rất nhiều trong số họ đi đến kết luận về sự trở lại của Christ, đánh bại kẻ ác, và an lành ngự trị ngàn năm sẽ sớm bắt đầu. Không đâu ngoài miền nam nước Đức, nơi tín điều này bén rễ dưới những lời giảng của Hans Hut và Melchior Hofman.
Melchior Hofman bằng tuổi Conrad Grebel (lão linh mục đã rửa tội cho những người Anabaptist đầu tiên - chính ông này thổi hồn trong phong trào sơ khởi). Melchior dành tuổi thơ ở thành phố Đức Schwabisch. Ông thích đọc, hàng giờ liền ông ngồi đọc những sách thần bí, của những tác giả nổi tiếng thời đại. Cha ông làm nghề bán áo lông. Ông học buôn bán và đi tới nhiều nơi tìm hàng. 1520, ông đến một nơi là Livland, người ta rất khổ, phải làm từ sáng sớm tới khuya mà công xá chẳng bao. Ông thấy bất bình và bắt đầu giảng về Christ, về những lời tiên tri. Ông bị đuổi khỏi đó, tới Stockholm Thụy Điển. Ở Thụy Điển, ông tìm thấy nhiều hàng lông thú, có tiền, ông cho xuất bản cuốn sách đầu tiên của mình, về tiên tri Daniel, chương 12. Ông lại bị trục xuất. Ông tới Kiel, phát triển ba luận thuyết về những sự kiện thời cuối. Rằng thời thứ nhất của kỳ cuối là thời công vụ xứ đồ sau Jesus. Thời thứ hai là quyền lực của giáo hoàng. Thời thứ ba thuộc về Enoch và Elijah, hai nhân chứng ấy đánh bại ác quỷ và Christ sẽ trở lại cai trị trần gian ngàn năm.
Melchior tham gia Anabaptist và nhanh chóng thu hút được lượng thính giả đông đảo. Họ háo hức mong chờ những lời tiên tri sẽ thành sự thật kiếp này. Một cặp vợ chồng tên Leonhard và Ursula Jost, đặc biệt theo ông. Họ cùng nhau khẳng định mình có được mặc khải tiên tri, là những nhà tiên tri đích thực. Họ xuất bản sách, phát hành khắp nước Đức, lan sang Netherlands. Họ cũng di chuyển khắp nơi để truyền bá tư tưởng liên quan. Từ đây, bất cứ đến đâu, Melchior cũng có người lắng nghe và ủng hộ. Ông nói về thiên quốc của Christ. Ở Emden ông rửa tội cùng lúc hơn 300 người trong một thời gian ngắn. Về Strasbourg, ông lại đem theo bao người vào đạo. Sang Amsterdam ông gặp hai trợ thủ đắc lực. Ngập tràn ân điển trong tâm, Melchior trở thành khí cụ của God để cấy trồng Anabaptist khắp nơi từ miền trung Âu đến bắc biển.
Với những người nghèo, chênh lệch giai cấp lúc bấy giờ khiến đức tin về một thiên quốc ngự trị trỗi lên mạnh mẽ. Melchior nói, tất cả việc cần làm chỉ là sẵn sàng hành động, đứng lên quật khởi, biến những lời hứa về thiên quốc công bằng thành sự thật ngay lúc này. Đầu tiên là một tá, sau một trăm, một ngàn người, mắt họ cùng sáng lên hy vọng, rực rỡ đức tin, họ theo phong trào Anabaptist và tìm tới nơi gọi là Munster, vùng đồng bằng dọc Rhein. Ở Rhein người ta lao động cực nhọc đã lâu, đường bùn đất dọc đồi núi, buôn bán này là trung tâm thương mại. Munster là trung tâm giao thương sầm uất nhất miền bắc Germany. Hiển nhiên có sự giàu thì cùng lúc sự nghèo cư ngụ. Người nghèo ở Munster nghe được lời tiên tri của Melchior liền đáp lại bằng cả trái tim họ. Một thương gia buôn vải tên Berndt Knipperdolling, trở thành lãnh đạo và người phát ngôn cho phong trào Melchior.
Năm 1531, một mục sư tới Munster, tên là Berndt Rothmann, một người trẻ có học vấn cao. Người này, cộng thêm hai "bồ câu đưa tin" khác hỗ trợ rất nhiều người khác theo chân Christ. Những anh em đưa tin Anabaptist nhanh chóng được cử tới hỗ trợ. Melchior tiên tri rằng Christ sẽ trở lại rất rất sớm, thậm chí có lẽ đã trở lại rồi. Bằng cách nào đó thật nhanh, Berndt Knipperdolling trở thành thống đốc, và thành phố trở thành một "nơi trú ẩn an toàn" (safe haven) theo đúng nghĩa đen mà nói, cho những người Anabaptist bị truy lùng ở khắp nơi quy tụ về.
Họ bắt đầu coi Melchior là tiên tri đích thực, người Anabaptist thì nói về Munster như New Jerusalem, nơi trời mới đất mới sẽ hiện ra. Hàng trăm, hàng ngàn người cải đạo tới bằng đường bộ, đường thủy, họ đổ về từ khắp Châu Âu, để sống trong thành trì mới của Christ. Họ hiến mọi tài sản đất đai tư hữu cho cộng đồng. Ôi thiên đàng trần gian lúc ấy, Berndt Rothmann xuất bản một cuốn sách làm rúng động chính quyền và chính giáo. Jerusalem mới này không thể được để yên.
Chiến tranh bắt đầu năm 1534, thành mới có Vua mới được đề cử là Jan van Leyden. Berndt lại viết sách giải thích về cuộc thánh chiến. Họ lập nên 12 tông đồ theo vua, và các nhà tiên tri mới liên tục được "mặc khải" điều gì nên làm, điều gì sẽ diễn tiếp. Một phụ nữ nói nhận được khải thị rằng mình nên tới doanh trại địch để giết giám mục bên kia, như Judith giết Holofernes trong kinh thánh. Can đảm này dĩ nhiên kết thúc trong thảm kịch. Những lời tiên tri khác cũng hỏng. Những anh em vô tội đưa tin Anabaptist tới Munster đều lần lượt rơi vào bàn tay kẻ thù và chết vô nghĩa.
Cuối năm 1534, mọi sự trở nên đen tối, ai ai đều muốn buông xuôi. Vua Jan van Leyden đã như những vua khác trong trần thế, quy hàng vô đạo. Ông này bắt đầu có hơn một vợ, rồi Berndt mục sư cũng lấy 9 vợ làm trợ lý. Mọi nguồn cung bên ngoài thành cạn kiệt, đói khát và bội phản rung lên. Đầu năm 1535, quân đội giáo hoàng vào thành phố càn quét, tắm máu cuối cùng được hoàn tất khắp đường cùng ngõ hẹp. Berndt Rothmann trốn thoát, Berndt Knipperdolling, và vua Jan thì bị bắt. Bị cho vào cũi sắt mà điệu đi khắp các nơi trong nhiều tháng trước khi được tra tấn tử hình, cho diều hâu ăn xác chết treo ở trên lầu nhà thờ Sankt Lamberti.
Riêng nhà tiên tri Melchior, khi ấy đang bị giam ở Strasbourg, thì vẫn bình an vô sự. Ông đã già và phải bị giam cầm mãi mãi, chờ đợi trong vô vọng một lời tiên tri nào sẽ thành sự thật. 5 năm đã qua và người ở thành mới của Christ đã chết hết, còn ông lão tội nghiệp thì vẫn phải sống. Chân ông sưng phồng lên và ốm đau bệnh hoạn. Người ta thả thức ăn xuống phòng giam cho ông mà không ai được tiếp xúc. Những lời cầu xin thêm giấy và mực viết chỉ rơi vào tai điếc. Không ai nghe những lời kêu gào vô vọng của lão già điên dại ấy nữa. Đôi khi, ông viết tiếp những lời tiên tri khải huyền lên những chiếc lá khô đã kẹp vào những cuốn sách mang theo bên mình. Rồi ông xé vải trải giường làm những mảnh để viết. Viết cả lên quần áo chính mình, cho đến khi hết cả chỗ viết và cả mực. Nhưng những lời tiên tri ấy đều sai, đều không hay chưa thành sự thật. Melchior hát và gào thét trong ngục cho đến khi yếu dần. Những ai từng chung chia ảo mộng (vision) với ông đều đã phân tán và ra đi.
Năm 1543, Melchior Hofman chết trong ngục ở Strasbourg 10 năm sau ngày sụp đổ của Munster. Nhưng chưa hết, cần hơn một sai lầm cá nhân, hơn nhiều lời dạy sai, hơn một tiên tri giả, để dẫn đến sự tan rã của cuộc vận hà Anabaptist ở Châu Âu này...
Bạn Đường
Wednesday, June 17, 2026
C96: Anabaptist 4
C95: Anabaptist 3
Anabaptist 3:
Dẫu không muốn tiếp tục tìm hiểu thêm về cái đạo mắc dịch của mấy kẻ khỉ ho cò gáy này, lời thề Phật Pháp Vô Biên thệ nguyện học, đã thấm sâu vào máu từ bao giờ. A Đường phải hoàn thành lời khấn nguyện của chính hắn trong kiếp ấy, để đóng lại một tab linh hồn còn dang dở, trong bao nhiêu tệp đính kèm dở dang mà hắn và đồng bọn đã vô tình ghim gúc. Thế là, mọi trì hoãn trễ nải trong hắn như một mớ áo quần bề bộn, ngổn ngang, phải đùn đống vào một góc đợi chờ xử lý. Còn riêng hắn ngồi xuống với mớ tâm tình bấn loạn nhưng không, tóm lược tiếp những dòng về Anabaptist, những người mở đường cho phong trào liên minh thiên hạ... của kẻ mà "ai cũng biết là ai" đó. Harry Porter mà có hiện về, thì cũng coi hắn như phù thủy tập sự đi.
Tập sự ... âm thầm miên mật, nguyện cầu cho mọi cái chết xưa nay không là vô nghĩa. Cho mọi ao ước thiêng liêng nảy chồi nhựa sống, ngay nơi lầm trách, lầm hiểu, lầm than, khổ ải muôn vàn. Nếu ngài "Cầu Danh Bồ Tát" được cầu muôn kiếp để thành Phật Cười, thì hắn có ngại gì mà không cầu ra nước mắt, trân quý thay một danh gọi bất kỳ nào, của những ai đã ra đi để trở về, trong cuốn sách tử đạo này? Mỗi cái tên là một câu chuyện, một cuộc đời đã đi vào Tàng Kinh Các. Họ đi trong bước nhảy của thần Shiva, quay cuồng trong "quan" phòng "hành động" nơi Ngài ...
- - -
Chương 16: Về Truyền Thông (On with the Message)
Take heed, take heed to the Saviour's command!
March on, march on, proclaiming his love!
He said he would be with us and keep us unto the end of the world.
Go out, Go out into the world!
Go out and preach the Gospel!
Glory hallelujah to Jesus!
He saved our souls, he washed away our sins.
Let us proclaim to all the world his love!
Thông điệp này túm lấy tâm tôi, như thường lệ. Lời thánh ca vang lên lùa vào lá cỏ khô cuối năm. Tôi nghĩ về những quả bom chúng tôi vừa nghe thấy vài đêm trước. Lại nghĩ về những máy bắn súng tối tân, trực thăng bay ngay trên đầu cành, xe tăng và tất cả những vũ trang quân sự của trần gian này, cùng những lá cờ trắng...
Look, look at the condition of the sinner!
How sad it is! How filled with pain!
Without light, without peace he walks toward eternity and does not know the danger he is in!
Go out, go out, ambassadors of the Lord!
Search for the poor sinners. Make good use of the time the Lord gives you, because the day of salvation will soon be over!
Go out, go out into all the world! Go out and preach the Gospel!
Go out and follow your Saviour who goes before you...
Tôi biết rằng những thanh niên đang hát bài ca ấy, rất nhiều không đến từ những gia đình theo đạo Thiên Chúa, rất nhiều trong số họ là trẻ mồ côi. Số những cậu bé phải đi lính và đảo ngũ vì đức tin Thiên Chúa là rất nhiều. Họ sẽ trở lại phố phường và sống những lời ca ấy. Những người Anabaptist gửi đi những người đưa tin (Messengers) - người chia sẻ - những bồ câu đưa thư của đạo, mặc cho nhiệm vụ "truyền bá Phúc âm" (evangelism) chưa bao giờ khó khăn đến vậy. Một nhân chứng sống cho thời kỳ đầu ở Thụy Sĩ có viết:
"Bỗng nhiên, bao nhiêu người, tưởng như đang sẵn sàng cho một hành trình mới, phải bị trói thành hàng dài, diễu qua phố phường Zurich. Nơi họ đứng là giữa chợ trời, họ thuyết giáo một đời sống tốt đẹp hơn, sự hoán cải (conversion), tự do khỏi tội lỗi và tình anh em (brotherly love)."
Mỗi người đưa tin Anabaptist, nếu bị bắt, phải đối mặt với cực hình và cái chết. Không có con đường nào an toàn dành cho họ. Họ đi bộ, băng qua rừng, qua núi, qua đêm. Tất cả các nước Châu Âu cấm họ. Họ xuất điểm từ những nhà thờ bí mật với không, hoặc rất ít tiền, chẳng thể dựa vào đó mà duy trì đời sống. Nhưng họ vững tin kiên quyết làm chứng cho Ngôi Lời, bằng chính đời sống và việc làm của họ. Họ nói bằng cả sức mạnh từ Trời cao. Họ kêu gọi tất cả mọi người sám sửa, để trở về, quy hồi... từ những hư ảo/ vô thường(vanity) của trần gian, từ những tội lỗi và méo mó (wrenched) của đời. God đã ban phúc cho công việc này và nó được thực hiện trong vui mừng.
Những người đưa tin lên đường trong vui mừng, nhưng rất nhiều người không trở lại. Họ được gửi đi cứ hai người một, họ bỏ lại vợ con, hy vọng có thể gặp lại, nhưng không hẳn là nơi trần thế. Họ chỉ đơn giản đi đâu đó, mang tin gì đó, mà phải trả cái giá là mạng sống mình.
Chính quyền công giáo buộc tội tà vạy cho Josef Schlosser, một người đưa tin ở Poland năm 1579. "Nếu anh là người tốt, thì nên ở yên tại nước mình và để người khác được yên." Josef đáp: "Tôi không lừa ai. Chúng tôi đi khắp nơi để vâng theo lời yêu cầu của Christ, gọi người ta sám hối và giúp những ai muốn sống đời tốt hơn." Cơn đói tin mừng ở Poland khiến người ta yêu mến Josef, chính quyền phải giấu anh sau những nhà ngục, tuy vậy dòng người vẫn tìm đến nghe không ngớt ...
Làm đầy nhà của Chúa.
Hieronimus Kral, một người đưa tin khác chịu tù đày ở Austria cho đến khi áo quần anh đã mục hết cả. Chỉ còn lại cái cổ áo anh gửi cho bè bạn làm tin rằng anh còn sống, anh viết lên đó rằng: "Chúng ta được gửi đi không phải để làm hại hay làm thiệt (disadvantage) ai. Mà là để tìm kiếm cứu rỗi cho con người và cho họ con đường hoán cải."
Leonhard Dax, một mục sư chuyển thành Anabaptist, được gởi đi cùng vợ ông, Anna. Cùng Ludwig Dorker, Jakob Gabriel Binder, Jorg Schneider, Barbara, từ một Bruderhof mới ở Tawikovice gần Mahrisch-Kromau. Tất cả đều rơi vào tay chính quyền ở Alzey.
Chính quyền không ngớt chẳng thể ngăn những bồ câu đưa tin ấy. Năm 1603, sau nhiều năm bị đàn áp, tước đoạt, khiếp sợ trong cuộc cách mạng ở Hungary, những cộng đồng Anabaptist của nước ấy gửi sáu người đưa tin tới phía Đông Bắc Âu trên biển Baltic. Thuyền đi từ Denmark, họ bị bắt bởi tàu Thụy Điển và đưa về đó. Khó khăn lắm mới tới được nơi đã định (destination).
Dù được mời hay không, những người ấy đều nói như Klaus Felbinger, một người đưa tin miền nam German nói: "Chúng tôi không chỉ đến đất này mà tất cả những nơi nào mà ngôn ngữ của chúng tôi chạm tới. Chúng tôi có thể đi bất cứ đâu mà God mở cửa. Bất cứ đâu God dẫn đường, tới những trái tim nhiệt thành tìm kiếm Ngài và những ai đã chán đời vô đạo (ungodly life) ở trần gian. Chúng tôi đến với những ai ước ao cải tạo đời họ. "
(We go not only into this land but into all lands as far as our language extends. We go wherever God opens the door. We go wherever God opens a door. We go wherever God directs us to hearts who earnestly seek him and who are tired of the ungodly life of the world. We go to those who wish to amend their lives. To all such places we go and will go.)
Kaspar Braitmichel viết: "Bởi God Toàn Năng muốn dựng ngôi nhà của Ngài và khiến cộng đồng của Ngài tăng lên, Ngài luôn cung cấp ơn huệ để nhiều linh hồn hơn có thể tìm đường thoát khỏi những quốc độ tan hoang và bội giáo, mà vào trong tình anh em để bàn ăn của Ngài và nhà của ngài được tràn ngập."
(Since God the Almighty desired to build his house and cause his community to increase, he always provided a way of grace that more souls found their way out of desolate and apostate nations into the brotherhood so that the Lord's table and house were well filled.)
Càng phấn khởi trong Chúa (God/Shiva/Christ/Phật A Di Đà/Allah/Vô Lượng Quang), họ càng khát khao (desire) mang những linh hồn vào trong Liên Hiệp với Christ, và càng thậm tệ những khổ hình mà họ phải đối mặt. Martin Luther (một nhà cải cách tôn giáo nổi tiếng) gọi họ là Shwarmer (Swarmers) - đàn/bầy/đám (ong, kiến). Họ được gọi là bọn ký sinh, sâu bọ gây hại, gangsters, kẻ cướp.
Heinrich Bullinger, thư ký tòa ở Zurich báo cáo rằng: "Người ta chạy theo họ như thể họ là thánh sống. Sợ hãi, nể phục, nguyền rủa, dù thế nào thì cuộc vận động mang tên Anabaptist này, không ai có thể lờ đi được."
Wolfgang Capito, một lãnh đạo kháng cách (Protestant Leader) ở Strasbourg, viết năm 1527: "Tôi thẳng thắn thú nhận rằng tôi thấy trong hầu hết những người Anabaptist, lòng sùng mộ và sự hiến dâng. Sốt sắng (zealous) nhiệt tâm của họ vượt trên mọi hoài nghi về thành thực. Lợi lạc vật chất trần gian nào họ mong đạt được? Từ việc chịu những lưu đày ly hương, hành hạ, và trừng phạt không kể xiết về thể xác? Không phải bởi thiếu trí khôn mà họ có phần dửng dưng với những điều trần thế. Chỉ là bởi sự thôi thúc thiêng liêng trong họ."
(I frankly confess that in most Anabaptists piety and consecration my be seen. They are zealous beyond any suspicion of insincerity. What earthly advantage could they hope to gain by enduring exile, torture, and unspeakable punishment of the flesh? It is not because of a lack of wisdom that they are somewhat indifferent toward earthly things. It is because of their divine motivation.)
Những lính được chính quyền huy động để tiêu diệt Anabaptist là vô kể. Trong một báo cáo ở miền nam Germany, đầu tiên là 400 lính, rồi lên tới 1000. Cuối đoạn ghi chép của những anh em ở Moravia, có 2173 người bị tử hình vì niềm tin của họ: "Không ai có thể lấy ra khỏi tim họ điều mà họ đã trải qua... Ngọn lửa của God bùng lên trong họ. Họ thà chết một cái chết hung bạo nhất, thực tế, họ còn có thể chết mười lần nữa thay vì từ bỏ sự thật mà chính họ nguyện gắn kết. Họ uống suối nguồn sự sống của God và biết rằng God sẽ giúp họ vác thập tự, vượt qua mọi đắng cay của sự chết."
(No man was able to take out of their hearts what they had experienced ... The fire of God burned within them. They would rather die the most violent death, in fact they would have died ten times rather than forsake the truth to which they had married themselves. They drank from God's fountain of the water of life and knew that God would help them to bear the cross and overcome the bitterness of death.)
Berthold ở Schwabisch là một kẻ máu lạnh. Y đã ra lệnh thảm sát tất cả những ai bị bắt trong buổi gặp đầu năm mới ở Mantelhof năm 1531. Giữa năm 1530, y đã khoe khoang giết được ít nhất 40 bồ câu đưa tin Anabaptist, và 1200 kẻ theo "dị giáo" này. Nhưng God đã nói với y qua sinh mạng của những nạn nhân vô tội ấy. Y thấy những khuôn mặt họ khi họ chết và nghe những lời chứng (testimony), bao gồm cả của cậu bé con ông xay lúa (the miller's son). Cuối cùng, sau một buổi hành quyết trước công chúng một người đưa tin tên là Onophrus Griesinger ở Brixen, miền nam Tyrol, y không thể chịu nổi nữa. Y hoán cải, đưa hai bàn tay lên trời và khóc xin được khoan dung. Bằng một giọng lớn cho tất cả những người xung quanh nghe được, y thề trước God sẽ không bao giờ "chạm" vào bất kì một Anabaptist nào nữa. Chiên con, Jesus Christ, đã thắng!
Ở đâu, hỡi sự chết, nọc độc của ngươi?
Johannes Faber, một thầy dòng tu Dominic ở Baden-Wurttemberg viết: "Bằng cách nào những người đó thật vui sướng và tự tin cam chịu nỗi đau chết chóc? Họ nhảy và múa trong lửa. Họ thấy những lưỡi gươm lóe sáng sẽ chặt đầu họ mà không mất can đảm, và họ vẫn nói, vẫn thuyết giảng cho người xem với những nụ cười lớn trên mặt họ. Họ hát thánh ca, những giai điệu cho đến khi hồn rời khỏi. Họ chết trong vui mừng, như thể trong một đoàn vui vẻ, mãi khỏe, chắc chắn, kiên định cho tới chết. Họ khăng khăng cố chấp, bướng bỉnh ngang ngược trong ý định, cũng bấp chấp, coi thường, từ chối nhượng bộ mọi nỗi đau và tra tấn."
(How does it happen that the Anabaptists so joyfully and confidently suffer the pain of death? They dance and jump into the flames. They see the flashing sword without dismay, and speak and preach to the spectators with big smiles on their faces. They sing psalms and hymns until their soul departs. They die with joy, as if they were in a merry company, remain strong, confident, and steadfast to their death. Persisting defiantly in their intention, they also defy all pain and torture.)
Khi Gotthard của Nonnenberg và Peter Kramer bị chặt đầu năm 1558, một bài ca ở Ausbund được viết: "Người ta ngạc nhiên. Chuyện gì vậy? Họ tự nguyện đi chết, dù họ có thể được tự do. Gotthard đáp: Chết chỉ đưa chúng tôi về trời nơi chúng tôi sẽ cùng với mọi con cái của God. Đây là hy vọng chắc chắn nhất, vì vậy chúng tôi bước vào cửa tử với niềm vui!"
- - -
March 2019
Nguồn gốc Thiêng Liêng của sự sống là Tình Yêu Thiêng Liêng.
Tình Yêu Thiêng Liêng khai sinh ra sự sống mới - được gọi chung cho tất cả thế hệ là: Con Cháu của Đấng Chí Cao, tất cả đều mang Chủng Mầm Thiêng Liêng.
Vun bồi, chăm sóc, nấng nuôi, giáo dưỡng sự sống cho Sinh Mệnh Thiêng Liêng bằng Tình Thương Thiêng Liêng vô bờ bến, miệt mài ròng rã suốt dài theo năm tháng, thời gian là bất tận... trải qua vô lượng vô biên "kiếp" sống cho đến khi nào, Sinh Mệnh Thiêng Liêng thực sự Trưởng Thành Sự Sống Thiêng Liêng, đủ mọi khả năng Làm Chủ Đời Sống Thiêng Liêng của chính mình!
Mục tiêu của sự sống nơi tất cả Thế Giới trong Đại Vũ Trụ Vô Biên, không gì khác hơn là nhằm tạo nên môi trường cho Sinh Mệnh trải nghiệm sự sống, tiến hóa nhận thức, có ý thức nhận biết rõ ràng, dần có được và dần BIẾT NỖ LỰC không ngừng nghỉ.
Tự giác - giác tha có nghĩa là không chờ đợi ai nhắc nhở, quở phạt... mà vẫn luôn tự lực tìm tòi học hỏi tối đa trong khả năng mình có thể, để ngày càng tăng trưởng Tình Thương của chính mình thêm ngày mỗi lớn lao hơn, sáng suốt hơn, bảo đảm được sự đúng đắn, chân xác, toàn thuận với Luật Tự Nhiên Bất Biến, khế hợp tương hòa với Vĩnh Hằng toàn triệt!
Tiến hóa là quá trình lâu dài vô tận của sự trưởng thành nhận thức đúng đắn về Tình Thương ở cả lý thuyết lẫn thực hành cho một Sinh Mệnh Sống trong Vũ Trụ, cho đến khi nào, từng ý - ngôn - hành đạt đến sự thuận hợp toàn bích với Quy Luật Tự Nhiên.
Khi Trạng Thái Tình Thương của Sinh Mệnh (TÂM) đã được Trưởng Thành trong Sự Sống Thiêng Liêng thì Sinh Mệnh Tiến Hóa mới có đủ tư cách bước vào Lĩnh Vực Tình Yêu Thiêng Liêng, để rồi sẽ trở thành Nguồn Gốc Thiêng Liêng cho các hình thái sự sống mới tiếp theo!
>>> SỰ SỐNG VIÊN VẸN ĐỦ ĐẦY TẤT CẢ KHẢ NĂNG SÁNG TẠO, Kiến Lập nên các Hình Thái Vũ Trụ Mới với tư cách là Cha Mẹ Tạo Hóa Thiêng Liêng, Thai Sinh ra Đứa Con Tinh Thần Thiêng Liêng - Cấp Độ Vũ Trụ TRONG TÌNH YÊU THIÊNG LIÊNG Tinh Khiết, Đơn Thuần, Vô Tư, Trong Sáng, Toàn Thiện, Trọn Lành, Thập Thành, Thập Mỹ, Hoàn Hảo Vô Khuyết!
October 2019
Kể từ thơ bé ngây ngô,
Thẳm sâu vốn đã là Thơ, là Tình!
Hồn nhiên tự tính Thiên sinh,
Yêu rừng, yêu núi... Biển Tình Vô Biên!
Tung tăng đồng ruộng, đê triền...
Hòa mình cùng với Thiên Nhiên Tự Tình!
Kiếp người trong Bể phù sinh,
Biết bao giông bão thế tình lịch qua...!
Nỗi niềm... thống khổ... kinh qua,
Trưởng thành phẩm tính, Nhân là Chính Nhân!
Tình Trời Tình Đất Vuông Tròn,
Nhận ra, thấm đẫm Công Ơn Sanh Thành!
Tổ Tiên Nguồn Cội Thiên Thanh,
Là Trời, là Phật, Trọn Lành, Vô Biên!
Nhận ra Nguồn Cội Chơn Miền,
Lần theo Tiên Tổ Thiêng Liêng, TRỞ VỀ!
Nơi đây nào phải Chân Quê,
Nơi đây chốn cõi Đi Về mà thôi!
Tâm Linh khi Thức Tỉnh rồi,
Không còn vương luyến chốn nơi Gian Trần!
Đương còn trong xác trong thân,
Chỉ là để Sống Chứng Nhân Thiên Tình!
Giản đơn một mảnh vườn xinh...
Cháo rau qua bữa... mà Tình vô biên!
Của cải là thứ gông xiềng,
Lợi danh là thứ đảo điên tình đời!
Tình trần đem thả chết trôi,
Đời trần một chuyến đến rồi, lại đi!
Nhị Nguyên huyền huyễn biến di,
Nhất Nguyên bất biến duyên tùy tương duyên!
Vô thường tự thể đa nguyên,
Hằng thường Bất Nhị Uyên Nguyên Nhất Tình!
Thân Trần không khác chúng sinh,
Tâm Trần tự huyễn mị tình đa đoan,
Trí Trần điên đảo hoang đàng,
Thân Tâm Trí ấy, Trần Gian, Không Mình!
Chính Mình nơi cội Nguồn Linh,
Chính Mình chẳng thuộc thế tình trần gian!
Chính Mình Quê Chốn Thiên Đàng,
Chính Mình Chân Thể Niết Bàn Vô Ưu!
Màn che Tâm Thức mịt mù,
Vén ra khắc tỏ đường tu Chính Mình!
Trôi lăn Lục Đạo Phù Sinh...
Trưởng Thành Linh Tự Biết Mình Không Ta!
https://thuvienhoasen.org/a28753/4-phat-tam-bo-de
Lâm Như Tạng
I-BỒ-ĐỀ LÀ GÌ ?
Tiếng Pãli : bodhi. Dịch là Tri, Đạo, Giác, Trí. Nói theo nghĩa rộng Bồ Đề là Trí Tuệ đoạn tuyệt phiền não thế gian mà thành tựu Niết Bàn. Tức là Trí Giác Ngộ mà Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn đã đạt được ở qủa vị của các Ngài. Trong các loại Bồ Đề nầy, Bồ Đề của Phật là rốt ráo tột bậc, nên gọi là A nậu đa la tam miệu tam Bồ Đề dịch là Vô thượng chánh đẳng chánh giác, Vô thượng chánh biến trí, Vô thượng chính chân đạo, Vô thượng Bồ Đề.
Sau khi thành Phật, Đức Thích Ca có giải rằng ngài có đủ ba thể Bồ Đề:
1- Ứng Hóa Phật Bồ Đề: tức là thể Bồ Đề hiện lại trong đời Ngài làm Thái Tử Tất Đạt Đa mà tu hành.
2- Báo Phật Bồ Đề: tức là thể Bồ Đề mà Ngài tự tạo ra nhờ các điều lành, các sự tu học trong những đời trước.
3- Pháp Phật Bồ Đề: tức là thể chơn như đã có nơi Ngài tự bao giờ, nó vẫn thường trụ nơi các chúng sanh. Đó là Tam Bồ Đề hay là Tam Phật Bồ Đề.
Ngoài ra Bồ Đề còn có nghĩa thông thường là thông suốt và Giác Ngộ. Nhưng cảnh sở thông và sở giác có hai Pháp.
Một là: Cắt đứt phiền não chướng mà được Nhất thiết trí của Niết Bàn, đó là Bồ Đề của Tam Thừa (Thinh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát).
Hai là: Cắt đứt được Sở tri chướng mà được Nhất thiết chủng trí biết tất cả các Pháp, đó là Bồ Đề của riêng Phật.
Bồ Đề của Phật gồm Nhất thiết trí và Nhất thiết chủng trí cho nên gọi là Đại Bồ Đề.
II-NHỮNG KINH NÓI VỀ BỒ-ĐỀ
1-KINH PHÁP HOA, PHẨM NHƯ LAI THỌ LƯỢNG
Kinh có ghi : “Ta thực thành Phật đến nay đã vô lượng vô biên kiếp”. Đó là nói về Báo Phật Bồ Đề, thập địa viên mãn, chứng được Niết Bàn chân thường.
Pháp Phật Bồ Đề, Như lai tạng tính vốn là thanh tịnh, chúng sanh giới tức Niết Bàn Giới. Điều mà kinh nói: “Như Lai thấy biết tướng của ba giới đúng như thực, chứ không như Tam Giới thấy tam giới” chính là nghĩa ấy.
Tuesday, August 19, 2025
C94: Anabaptist 2
Anabaptist 2
Những người Anabaptist thường nói về việc “kết hôn với Christ” như cô dâu gắn kết với chú rể. Hoa hồng là máu Christ đã đổ để giải thoát họ khỏi nợ nần tội lỗi mà họ không thể trả. Điểm chung này dẫn họ tới cái gọi là “Cộng đồng” Liên hiệp.
Họ đi bộ rất xa khuân theo lương thực và đồ dùng, gần 200 người chưa tính cả trẻ em. Họ tới một nơi mới và dựng trại ở đó, bốn người được bầu ra làm đại diện quản lý của cải chung. Họ trải bốn chiếc áo xuống đất và “tất cả mọi người tự nguyện vứt xuống đó những gì mà mình có.”
Cộng đồng đầu tiên của người Anabaptist được hình thành và được chấp thuận cũng như hỗ trợ đặc biệt của lãnh chúa vùng nọ. Từ vài trăm người rồi tới vài nghìn. Trong 30 năm, con số lên tới 60,000.
Trước toà ở Zurich, họ bị lên án: “Những người này bảo rằng nếu là tín hữu chân thực thì cho và nhận tài sản tạm thời của nhau một cách miễn phí, ai cũng có quyền sử dụng mọi thứ. Họ nói vậy để thu hút quần chúng những người nghèo và người nhẹ dạ tham gia.”
Những người Anabaptist tuyên bố: “Anh chị em của cộng đồng này sẽ không có đất đai của riêng mình. Mà, cũng như thời các sứ đồ theo Chúa, họ có chung mọi sự. Đất đai của cộng đồng sẽ được coi là một mảnh duy nhất, nơi đó người nghèo sẽ nhận, mỗi người tuỳ theo nhu cầu. Không ai phải chịu thiếu.”
“Anh chị em hãy trao cả xác và hồn chính mình cho God trong cộng đồng của ngài. Mỗi món quà God tặng nên là của chung, ngoại trừ vợ hoặc chồng mình, cũng như thời kỳ đầu các sứ đồ.”
“Những ai bỏ cộng đồng và trở về tư hữu của cải cũng đồng nghĩa bỏ God, mất đi mối tình đầu, và trở thành kết thù của ngài, trộm lấy những thứ ngài cho. “
Những cộng đồng như thế không may thay có rất nhiều đã phải chịu bắt bớ và xử phạt nặng nề.
Tình Yêu không biết làm gì ngoài chia sẻ. Họ chia sẻ một cách vui mừng bởi trái tim họ đã tức thời mở toang trước lẽ sống mới.
Gabriel Ascherham, một lãnh đạo của cộng đồng Anabaptist lớn ở Moravia năm 1520 với khoảng 1200 người, đã viết:
“Những sứ đồ khi xưa ở Jerusalem không yêu cầu ai đưa ra tài sản. Nhưng khi họ nghe Tin Mừng và nước trời, họ tin và gia nhập. Họ đầy vui sướng và tim họ hướng tới những Phước lành từ Thiên quốc (heavenly blessings), nên họ coi những sở hữu Trần gian (earthly possessions) chẳng là gì cả. Tự nguyện, không cần phải ai nói, họ đi bán nhà cửa đất đai, đem tiền ấy đặt dưới chân những sứ đồ. Rồi những của cải ấy được phân phát tuỳ theo nhu cầu mỗi người. Cộng đồng của chung là một minh chứng cho Thiên quốc đã tới với họ.
“Giống như Christ, là yêu thương nhau trong mọi sự ở Trần gian này. Chúng ta không thể chỉ yêu bằng lời xuông mà bằng thực tế. Nếu ta có của dù ít hay nhiều, và thấy kẻ khác cần nhưng ta không chia sẻ những gì mình có - thì làm thế nào ta có thể sẵn sàng hy sinh cả mạng sống mình cho họ nếu cần?
Những người Anabaptist tìm thấy lời hứa trong Cựu Ước về điều này, Peter Walpot viết:
Trong sáu năm, những người Israel có thể thu hoạch vụ mùa, nhưng đến năm thứ bảy họ phải để đó. Mọi thứ trên đất tuỳ ý bất kỳ ai tận hưởng, gia súc trâu bò cũng có thể ăn, chim muông hoang dã đến lấy. Nô lệ, người làm cũng được nghỉ và được phần. Bất kỳ ai cho vay thì không lấy nợ vào năm ấy. (Year of release). Đó là thời gian huy hoàng, như tiệc mừng đám cưới.
Năm của buông xả, những ai đã là nô lệ cho gian ác thì được tha khỏi nó. Chúng ta ăn mừng bằng cách gộp chung mọi của cải God đã cho ta, thông qua tình yêu Christ, chúng ta chia vui bằng cách không khẳng định sở hữu bất kỳ cho riêng mình, và sẻ chia với mọi người lân cận. Cộng đồng như vậy không chỉ sống trong một năm thứ bảy mà luôn luôn là như thế. Luôn sống trong ân Phước.
Nước trời, như Ambrutz Spittelmayr, trước khi bị chặt đầu năm 1527, đã viết:
“Không ai được thừa hưởng nước trời nếu không trở nên nghèo khó như Christ, con người đã chẳng có chỗ tựa đầu. Không có nghĩa anh phải vào rừng ngủ hay không có việc làm. Chỉ đơn giản là anh không nên nghĩ những thứ này là của riêng mình, chỉ mình mình được sử dụng, rồi nói: nhà này của tôi, đồng này của tôi, tiền này của tôi... Thay vì đó, anh nên nói: của chúng tôi, hay “của Cha Trời”.
Một tín hữu không nên có gì của riêng mình mà có mọi sự là của chung. Nói cách khác, tôi sẽ không làm việc để nhà tôi đầy ắp, bàn tôi đầy thịt, mà để những người khác có đủ.”
Wolfgang Brandhuber viết năm 1529:
“Nếu chúng ta có thể chia sẻ những điều quan trọng nhất (Đức tin vào Christ), tại sao lại không thể chia sẻ những thứ tầm thường hơn (của cải vật chất)?...”
Ulrich Stadler viết năm 1530:
“Giao ra đất đai, tài sản, mọi của cải của chính mình, vứt đi mọi tư hữu cá nhân, là một cuộc trao phó toàn diện, đặt bản thân chúng ta vào ý Ngài trong mọi sự.”
Berndt Rothmann viết:
“Hy vọng rằng tinh thần Gemeinschaft giữa chúng ta mạnh mẽ đến độ cộng đồng này sẽ thực hành được những điều chưa từng trước đây. Chứng ta không chỉ có chung tài sản mà còn có chung cảm hứng thiêng liêng, chung trái tim về God. Tất cả những gì trước đây chúng ta từng vì mưu cầu lợi ích và vật chất cho riêng mình, mua và bán, ăn và uống mồ hôi nước mắt của kẻ nghèo, dựa trên lao nhọc của họ mà vỗ béo thân ta - tất cả những điều ấy sẽ biến mất hoàn toàn giờ đây, bởi sức mạnh của tình yêu và cộng đồng.”
Michael Gaismair viết về nước của Jesus năm 1526:
“ Các thành phố sẽ sụp đổ, và chỉ còn làng quê. Rồi sẽ không còn phân biệt giữa con người, không còn ai hơn ai, ai quan trọng hơn ai. Bởi phân biệt giai cấp mà kiêu ngạo, tội lỗi nảy sinh.”
Hans Hergot viết: “Thời cựu ước là thời của Cha, Tân Ước là thời của Con, rồi tới thời của Thánh Linh. Trước khi thời Thánh Linh tới, sẽ có ba cái bàn trong xã hội. Bàn thứ nhất là sự dư thừa. Bàn thứ hai là vừa đủ. Bàn thứ ba là nghèo đói. Người ngồi ở bàn thứ nhất vẫn cố dành giật mọi thứ họ có thể lấy. Rồi God ra tay lật đổ cả các bàn, thế là mọi người phải ngồi cùng nhau ở bàn khiêm nhượng, vừa đủ (moderation).”
Peter Rideman viết:
“Những thứ trong tự nhiên được trao ban cho con người, tất cả chứ không chỉ một người. God tạo ta mọi thứ từ đầu, không muốn các thứ dưới quyền sở hữu cá nhân. Nhưng con người tội lỗi thay luôn khẳng định của mình. Con người tích luỹ mọi sự, và ngày càng rời xa khỏi God, để tôn thờ tạo vật chứ không phải Đấng Tạo Thành. Những gì ngoài tầm với của con người thì may thay vẫn là của chung: mặt trời, mặt trăng, các sao, không khí. Ý chí của God muốn thụ tạo phải nên như vậy, chung chia mọi điều.”
Peter Walpot nói: “Của tôi, của anh là nguyên nhân gây ra mọi tranh chấp, chiến tranh bắt đầu từ đó. Người ta trở thành nô lệ của sở hữu và bạn bè của thèm muốn. Như đất không bao giờ có thể uống đủ nước, lửa không bao giờ nói “đủ rồi”. Có càng nhiều, muốn càng nhiều. Của tạm cần phải được xem là những thứ công cụ nguy hiểm.”
Cộng đồng của những người Anabaptist rơi vào bức hại liên miên. Nơi tập trung hơn 25 cộng đồng cùng lúc bị thiêu rụi. Lương thực, vật nuôi, đồ đạc bị cướp đoạt. Đàn ông bị hành hình đủ kiểu, phụ nữ và trẻ em bị ngược đãi, bán làm nô lệ. Cộng đồng Anabaptist khắp Châu Âu dần tan rã, những người còn sống chạy trốn đây đó. Họ không thể sở hữu ngay chính mạng sống mình.
Song ngay cả những khi ấy, đòi hỏi cao nhất của tình yêu vẫn không chết. Miễn là những người Anabaptist vẫn sống trong liên hiệp với Jesus. Họ vẫn chung chia những gì mình có, và Jesus chỉ đường.