Wednesday, June 17, 2026

C96: Anabaptist 4

Anabaptist 4:

Những cái click chuột nhanh chậm, những phím gõ đều đều. Nào là nơi cao nguyên lặng gió của hồn. Khi đầu rơi chỉ là dĩ vãng, máu chảy đã xanh cây đời. Hắn và nàng, thiện và ác, đến một ngày nào sẽ bình tâm ngồi chơi xơi nước, bình lặng nhìn những ký ức xưa, sai lầm nọ, chỉ như những đám mây đen ngang trời. Rồi trong cơn giông Phong Thần sóng, có mấy kẻ vẫn bình chân như vại, tâm vẫn nhàn, bất ngoại thần trì, cảnh vẫn như trùng trình bảng lảng một nơi nao. Người ta chạy mưa tránh bão, có kẻ chịu chơi chẳng sợ mưa rơi, lại thích lao đầu vào giông bão, để rồi đứng đó hay an tọa giữa cuồng phong đất trời, mà tóc rũ tung bay, mà niệm niệm trì trì, miên man âm gọi... !

Chương 23: Những sai lầm nghiêm trọng

Hầu như ai cũng thích Ludwig, ở Thurgau. Ludwig là một học sinh giỏi có hạnh kiểm tốt. Cũng như nhiều thanh niên đồng lứa xuất thân trong những nhà khá giả, anh học tiếng Latin, Hy Lạp, Hebrew. Thầy dạy đã phát hiện tài năng ngôn ngữ nơi anh, khi 17 tuổi anh học triết ở đại học Basel. Càng học những công trình học thuật kinh điển như Kinh Tân Ước, Ludwig càng trở nên say mê đời sống Christ. 20 tuổi, anh chọn trở thành mục sư, và được đưa tới một thành phố đẹp là Konstanz, gần hồ nơi giám mục ở. Khi đang phụng sự như một giáo sĩ trẻ ở Wadenswil phía nam Zurich, ý muốn biết thêm nhiều về Christ dẫn Ludwig tới những sự kiện xảy ra trong phố. Tài năng viết lách của anh được nhìn nhận và tôn trọng, năm 1524 anh được giao phận sự (commission) đầu tiên: phiên dịch cuốn sách từ tiếng Latin cho sự truyền bá Phúc âm tới người Do Thái. Anh làm tốt quá, chưa kịp xong việc thì lãnh đạo lại giao tiếp việc khó hơn: dịch cuốn Kinh Thánh sang tiếng Đức.

Ludwig tới Augsburg, Bavaria để làm việc với những học giả ở đây. Họ chia cho anh công việc phần Thi Thiên. Việc hăng say, Ludwig dùng thẳng những bản cổ ngữ Kinh Thánh bằng tiếng Do Thái để dịch sang tiếng Đức. Anh gặp tất cả những nhân vật quan trọng ở Augsburg và được mời tới nhà một đôi vợ chồng tên Georg và Anna Regel. Họ yêu mến anh như con đẻ. Anna dành nhiều giờ hướng dẫn anh việc dịch sách. Còn Regel luôn tiếp những người bạn đặc biệt. Chẳng bao lâu anh phát hiện những người Anabaptist thường ghé thăm nhà này. Một đêm, chính quyền ập tới bắt dữ, Ludwig trốn thoát và trở lại Zurich song vẫn tìm cách giữ liên lạc với đôi vợ chồng nọ. Những day dứt về Anabaptist khiến Ludwig cuối cùng cũng bị cuốn vào đường lối của họ. Ở Strabourg anh gặp Hans Deck và kết bạn thân với người này. Hans Deck là một Anabaptist có học vở thuần thành, Ludwig đi theo Hans và bỏ lại phía sau mọi sách vở học thuật và địa vị. Họ di chuyển khắp nơi, dịch thêm những chương trong Cựu Ước. Họ trở nên nổi tiếng và chính quyền trục xuất họ khỏi những nơi tới. Ludwig trở về quê, nhưng không ngờ lãnh đạo đã phát hiện ra một tỗi lỗi tưởng rằng chỉ có mình anh biết.

Vài năm trước, khi còn ở Basel, Ludwig thường ngụ tại nhà những người giàu có và học thức. Khi ấy có một cô hầu gái trẻ đã đổ cả cây si vô vọng với anh. Đầu tiên Ludwig không tỏ ra quan tâm đặc biệt gì, nhưng dần dần chuyện khó tránh khỏi cũng đến, khi cô mời anh tới phòng cô một đêm nọ. Anh đã đầu hàng thể xác mình. Chỉ có vậy, không ai nghi ngờ gì. Một nhà phiên dịch tài ba cuốn Kinh Thánh, một tín hữu nhiệt lòng, và mối tình đầu với nàng hầu, được quy là gian dâm (thông dâm - với gái chưa chồng). Tưởng rằng chỉ hai người biết, song Ludwig ngạc nhiên khi lãnh đạo tới thăm mang theo bản án gian dâm này. Cô gái đã thú tội, và Ludwig không thể chối cãi. Nhưng anh là một người dịch kinh, nhân tài có phẩm hạnh, được cả những người Anabaptist nể trọng, vụ việc này vỡ lở khiến anh như rơi xuống vực. Anh vẫn trốn chính quyền, vẫn tiếp tục viết lách và dịch thuật, cuối cùng bị bắt ngày 28/11/1528. Bị tuyên án gian dâm. Ludwig vào tù nguyện tội và viết các bài ca. Trong cảnh ngộ bẽ bàng và buồn đau, anh viết 8 khúc nhạc thánh ca tuyệt vời. Những anh em Anabaptist thường dùng những bài hát ấy, và cả bài thơ này, kết thơ là:

"Tình yêu sẽ chẳng bao giờ là không. Tất cả đều có cái kết nhưng tình yêu thì không. Chỉ tình yêu còn mãi. Tình yêu mặc áo cho chúng ta trong hôn lễ của God. God là Tình Yêu, Tình Yêu là God. Ngài giúp ta ra khỏi mọi đau buồn, ai sẽ đưa ta rời xa Ngài? Tri thức nổi phồng, còn Tình yêu xây dựng. Bất cứ điều gì được làm không vì yêu thì đều hoại diệt. Ôi Tình yêu! Cầm tay dẫn lối ta, buộc ta lại bên nhau. Tình giả ngụy dối lừa cũng có. Amen."

4 tháng 2, 1529 Ludwig Haetzer bị điệu ra quảng trường Konstanz. Tại đây anh bình tâm đi tới cái chết. Anh nói với đám đông về tội gian dâm, hối cải, và trở về. Người ta thương hại anh. Ludwig còn trẻ và đẹp, tài năng của anh không ai nghi ngờ. Nhưng họ chỉ có thể nhìn một cái đầu học giả lại rơi xuống.

Lỗi giảng dạy

Những người Anabaptist ở Dutch và German không tin rằng Jesus có thể xác bình thường, mà tưởng rằng ngài là một thực thể tinh thần nào đó. Những lời giảng bất nhất với chính thống giáo luôn gây ra chia rẽ thường trực. Rồi vấn đề về thuế, một số Anabaptist tin rằng việc trả thuế đầy đủ là tốt, một số lại không đồng tình. Nữa là vấn đề về hôn nhân. Không phải là hiếm khi thấy người Anabaptist một khi "ngộ đạo" là mất vợ mất chồng. Chồng bỏ vợ, vợ bỏ chồng vì yêu làm sao được cái đám trái pháp luật như vậy. Người Anabaptist nhấn mạnh rằng hợp nhất của những người tin Christ thì đáng trọng hơn là sự hợp nhất giữa vợ và chồng. Đủ sự vụ lằng nhằng diễn ra xung quanh việc vợ chồng trong hiệp hội, như việc tái hôn cũng gây nhiều phê phán.

Sự nhấn mạnh không đáng

Xu hướng khổ hạnh phát triển trong phong trào Anabaptist đến nỗi nó trở thành khuôn mẫu (pattern) dập khuôn đời sống của hậu nhân họ, những người Amish. "Cái này không phải là quá đẹp sao?" là câu hỏi tôi thường nghe không biết bao lần suốt từ bé đến lớn ở Ontario. Bất cứ cái gì từ quần áo đến nhà cửa, bếp nồi, bàn ghế, hay chuồng ngựa. Nếu nó "quá đẹp", trông quá sang, quá "bề ngoài", đều được coi là thứ thuộc về trần gian.. thì sẽ bị khiển trách bởi những người anh em - mà đại diện là trưởng lão của cộng đồng.

Đồng hóa cái gì đẹp với cái gì ác xảy ra vào thế kỷ 16. Nhà tiện nghi, quần áo đẹp, cuộc sống dễ dàng? Tất cả chúng đều thuộc về "trần thế". Chỉ những tù ngục, trốn chạy, hành hung, buồn khổ, sầu đau, lo sợ là những gì xứng đáng dành cho những người theo đạo Christ chân thực. Ấy là tư duy lâu dài của người Anabaptist xưa nay. Họ sống trong một thời kỳ áp bức lực đến độ không khí bên kia sự chết mới là lý tưởng tột cùng. Họ không có thời gian để đùa cợt hay giải trí ngơi nghỉ (recreation). Đầu tiên thì chỉ là vì cấp thiết, sau đó thì là luật khổ hạnh. Họ lược đi mọi thoải mái bình thường của đời. Ở Thụy Sĩ, người Anabaptist còn xử phạt giáo đoàn ca hát vì sự nhượng bộ phù phiếm đối với giác quan.

Hầu hết những lãnh đạo Anabaptist đều đã từng học thức cao ở Châu Âu, song họ từ bỏ học vấn và tất tật những kiến thức liên quan. Cũng vậy, họ muốn đảm bảo con em mình cũng không màng, không có cách nào tiếp cận được chúng. Người Anabaptist sau này đều chủ trương chỉ học lên lớp 8, biết đọc biết viết và làm tính cơ bản là xong.

Những người Anabaptist trở thành những lữ khách hành hương, khách lạ - theo nghĩa đen mà nói với thế giới này. Theo Christ rồi, không gì thuộc về trần gian còn quan trọng với họ. Bị đuổi đi khắp nơi, con cái họ tha hương cầu thực. Họ ngủ trên rơm rạ và nền đất, trên núi trên rừng. Họ nói những ngôn ngữ thô vụng và ăn mặc cũng tự cấp tự túc. Chỉ trong vài thế hệ, sự khắc khổ (austerity) đã giới hạn họ - đặc biệt là những người ở Thụy Sĩ và Friesland, Groningen, quanh biển Baltic. Họ khép mình với thế giới, tâm trí họ tập trung trong những nhóm làng thôn quê, họ không mở cửa cho những người hoán cải xa lạ.

Những tiên tri giả

Khi có thể tự đọc và hiểu Kinh Thánh, những người Anabaptist bắt đầu xem những tiên tri của Daniel và chương Khải Huyền. Rất nhiều trong số họ đi đến kết luận về sự trở lại của Christ, đánh bại kẻ ác, và an lành ngự trị ngàn năm sẽ sớm bắt đầu. Không đâu ngoài miền nam nước Đức, nơi tín điều này bén rễ dưới những lời giảng của Hans Hut và Melchior Hofman.

Melchior Hofman bằng tuổi Conrad Grebel (lão linh mục đã rửa tội cho những người Anabaptist đầu tiên - chính ông này thổi hồn trong phong trào sơ khởi). Melchior dành tuổi thơ ở thành phố Đức Schwabisch. Ông thích đọc, hàng giờ liền ông ngồi đọc những sách thần bí, của những tác giả nổi tiếng thời đại. Cha ông làm nghề bán áo lông. Ông học buôn bán và đi tới nhiều nơi tìm hàng. 1520, ông đến một nơi là Livland, người ta rất khổ, phải làm từ sáng sớm tới khuya mà công xá chẳng bao. Ông thấy bất bình và bắt đầu giảng về Christ, về những lời tiên tri. Ông bị đuổi khỏi đó, tới Stockholm Thụy Điển. Ở Thụy Điển, ông tìm thấy nhiều hàng lông thú, có tiền, ông cho xuất bản cuốn sách đầu tiên của mình, về tiên tri Daniel, chương 12. Ông lại bị trục xuất. Ông tới Kiel, phát triển ba luận thuyết về những sự kiện thời cuối. Rằng thời thứ nhất của kỳ cuối là thời công vụ xứ đồ sau Jesus. Thời thứ hai là quyền lực của giáo hoàng. Thời thứ ba thuộc về Enoch và Elijah, hai nhân chứng ấy đánh bại ác quỷ và Christ sẽ trở lại cai trị trần gian ngàn năm.

Melchior tham gia Anabaptist và nhanh chóng thu hút được lượng thính giả đông đảo. Họ háo hức mong chờ những lời tiên tri sẽ thành sự thật kiếp này. Một cặp vợ chồng tên Leonhard và Ursula Jost, đặc biệt theo ông. Họ cùng nhau khẳng định mình có được mặc khải tiên tri, là những nhà tiên tri đích thực. Họ xuất bản sách, phát hành khắp nước Đức, lan sang Netherlands. Họ cũng di chuyển khắp nơi để truyền bá tư tưởng liên quan. Từ đây, bất cứ đến đâu, Melchior cũng có người lắng nghe và ủng hộ. Ông nói về thiên quốc của Christ. Ở Emden ông rửa tội cùng lúc hơn 300 người trong một thời gian ngắn. Về Strasbourg, ông lại đem theo bao người vào đạo. Sang Amsterdam ông gặp hai trợ thủ đắc lực. Ngập tràn ân điển trong tâm, Melchior trở thành khí cụ của God để cấy trồng Anabaptist khắp nơi từ miền trung Âu đến bắc biển.

Với những người nghèo, chênh lệch giai cấp lúc bấy giờ khiến đức tin về một thiên quốc ngự trị trỗi lên mạnh mẽ. Melchior nói, tất cả việc cần làm chỉ là sẵn sàng hành động, đứng lên quật khởi, biến những lời hứa về thiên quốc công bằng thành sự thật ngay lúc này. Đầu tiên là một tá, sau một trăm, một ngàn người, mắt họ cùng sáng lên hy vọng, rực rỡ đức tin, họ theo phong trào Anabaptist và tìm tới nơi gọi là Munster, vùng đồng bằng dọc Rhein. Ở Rhein người ta lao động cực nhọc đã lâu, đường bùn đất dọc đồi núi, buôn bán này là trung tâm thương mại. Munster là trung tâm giao thương sầm uất nhất miền bắc Germany. Hiển nhiên có sự giàu thì cùng lúc sự nghèo cư ngụ. Người nghèo ở Munster nghe được lời tiên tri của Melchior liền đáp lại bằng cả trái tim họ. Một thương gia buôn vải tên Berndt Knipperdolling, trở thành lãnh đạo và người phát ngôn cho phong trào Melchior.

Năm 1531, một mục sư tới Munster, tên là Berndt Rothmann, một người trẻ có học vấn cao. Người này, cộng thêm hai "bồ câu đưa tin" khác hỗ trợ rất nhiều người khác theo chân Christ. Những anh em đưa tin Anabaptist nhanh chóng được cử tới hỗ trợ. Melchior tiên tri rằng Christ sẽ trở lại rất rất sớm, thậm chí có lẽ đã trở lại rồi. Bằng cách nào đó thật nhanh, Berndt Knipperdolling trở thành thống đốc, và thành phố trở thành một "nơi trú ẩn an toàn" (safe haven) theo đúng nghĩa đen mà nói, cho những người Anabaptist bị truy lùng ở khắp nơi quy tụ về.

Họ bắt đầu coi Melchior là tiên tri đích thực, người Anabaptist thì nói về Munster như New Jerusalem, nơi trời mới đất mới sẽ hiện ra. Hàng trăm, hàng ngàn người cải đạo tới bằng đường bộ, đường thủy, họ đổ về từ khắp Châu Âu, để sống trong thành trì mới của Christ. Họ hiến mọi tài sản đất đai tư hữu cho cộng đồng. Ôi thiên đàng trần gian lúc ấy, Berndt Rothmann xuất bản một cuốn sách làm rúng động chính quyền và chính giáo. Jerusalem mới này không thể được để yên.

Chiến tranh bắt đầu năm 1534, thành mới có Vua mới được đề cử là Jan van Leyden. Berndt lại viết sách giải thích về cuộc thánh chiến. Họ lập nên 12 tông đồ theo vua, và các nhà tiên tri mới liên tục được "mặc khải" điều gì nên làm, điều gì sẽ diễn tiếp. Một phụ nữ nói nhận được khải thị rằng mình nên tới doanh trại địch để giết giám mục bên kia, như Judith giết Holofernes trong kinh thánh. Can đảm này dĩ nhiên kết thúc trong thảm kịch. Những lời tiên tri khác cũng hỏng. Những anh em vô tội đưa tin Anabaptist tới Munster đều lần lượt rơi vào bàn tay kẻ thù và chết vô nghĩa.

Cuối năm 1534, mọi sự trở nên đen tối, ai ai đều muốn buông xuôi. Vua Jan van Leyden đã như những vua khác trong trần thế, quy hàng vô đạo. Ông này bắt đầu có hơn một vợ, rồi Berndt mục sư cũng lấy 9 vợ làm trợ lý. Mọi nguồn cung bên ngoài thành cạn kiệt, đói khát và bội phản rung lên. Đầu năm 1535, quân đội giáo hoàng vào thành phố càn quét, tắm máu cuối cùng được hoàn tất khắp đường cùng ngõ hẹp. Berndt Rothmann trốn thoát, Berndt Knipperdolling, và vua Jan thì bị bắt. Bị cho vào cũi sắt mà điệu đi khắp các nơi trong nhiều tháng trước khi được tra tấn tử hình, cho diều hâu ăn xác chết treo ở trên lầu nhà thờ Sankt Lamberti.

Riêng nhà tiên tri Melchior, khi ấy đang bị giam ở Strasbourg, thì vẫn bình an vô sự. Ông đã già và phải bị giam cầm mãi mãi, chờ đợi trong vô vọng một lời tiên tri nào sẽ thành sự thật. 5 năm đã qua và người ở thành mới của Christ đã chết hết, còn ông lão tội nghiệp thì vẫn phải sống. Chân ông sưng phồng lên và ốm đau bệnh hoạn. Người ta thả thức ăn xuống phòng giam cho ông mà không ai được tiếp xúc. Những lời cầu xin thêm giấy và mực viết chỉ rơi vào tai điếc. Không ai nghe những lời kêu gào vô vọng của lão già điên dại ấy nữa. Đôi khi, ông viết tiếp những lời tiên tri khải huyền lên những chiếc lá khô đã kẹp vào những cuốn sách mang theo bên mình. Rồi ông xé vải trải giường làm những mảnh để viết. Viết cả lên quần áo chính mình, cho đến khi hết cả chỗ viết và cả mực. Nhưng những lời tiên tri ấy đều sai, đều không hay chưa thành sự thật. Melchior hát và gào thét trong ngục cho đến khi yếu dần. Những ai từng chung chia ảo mộng (vision) với ông đều đã phân tán và ra đi.

Năm 1543, Melchior Hofman chết trong ngục ở Strasbourg 10 năm sau ngày sụp đổ của Munster. Nhưng chưa hết, cần hơn một sai lầm cá nhân, hơn nhiều lời dạy sai, hơn một tiên tri giả, để dẫn đến sự tan rã của cuộc vận hà Anabaptist ở Châu Âu này...








No comments:

Post a Comment