Thursday, June 26, 2025

C92: Mục Đích Tiếp Nối

Chương 92: Mục Đích Tiếp Nối 

Mục đích của sự sống này, của tất cả những lo toan vụn vặt thường ngày hay lo lắng lớn lao, tất tật những gánh nặng hay nhẹ buộc ràng vật chất lẫn tinh thần ai ai, mà mỗi người từ khi sinh ra đã nhận lấy - cái bổn phận phải đi hết con đường đời mòn mỏi những dấu chân này, là gì?

Tín đồ New Age bảo rằng đó là Tiến Hoá để dần trở thành Đấng Sáng Tạo, Phật Tử bảo đó là Tu Tập để thành Phật, Con Chiên bảo để được Cứu Rỗi... khỏi sự mỏi mòn lặp lại khổ đau trong cái lốt sướng vui tạm bợ.

Sách “The Secret of the Strength” của tác giả Peter Hoover nói về những người Anabaptist vào khoảng thế kỷ 15-16 có đoạn:

Năm 1527, hai năm sau sự xuất hiện đầu tiên của phong trào Anabaptist (những người rửa tội lại) ở Thuỵ Sĩ, công chúng đã đồn đại về bí mật của họ. Người ta đồn rằng những người Anabaptist có một thùng phép thuật chứa đầy dung dịch phù thuỷ, thứ nước mà đến quỷ cũng chẳng biết là cái quái gì. Những người Anabaptist bắt những ai theo họ uống thứ nước ấy, mà dù chỉ một ngụm nhỏ thôi cũng đủ để thay đổi cuộc đời kẻ ấy hoàn toàn. Cái đầu kẻ ấy bỗng trở nên cực đoan nghiêm túc, không bao giờ có thể làm những gì mà trước giờ vẫn làm nữa. Không tiền bạc, không lợi ích nào mà đời đưa ra có thể mang kẻ đó trở lại là người như y đã từng là. Một khi đã uống phù phép, kẻ nọ sẽ chết trước khi từ bỏ những tín điều kỳ lạ của mình.

Năm 1527, ở trong tù, trước khi bị chặt đầu tại Rattenberg, Leonhard Schiemer đã trả lời cho câu chuyện trên rằng:

“Hỡi công chúng vô đạo, hãy nghe tôi nói đây. Các người đã đúng, chúng tôi đều phải uống từ chiếc cốc phù thủy, và hẳn nhiên là ma quỷ chẳng biết cái quái gì trong đó. Các người cũng vậy! Nhưng nếu các người muốn biết, thì tôi sẽ tiết lộ thành phần bí mật của thứ nước ấy ngay đây! 

Sự thật là bất cứ ai đã nhấp dù chỉ một ngụm cũng đủ để thay đổi hoàn toàn! Bởi thứ nước ấy được làm từ không gì khác ngoài sự đánh gục, xay nhuyễn, vò xé một trái tim đau khổ đã bị nghiền nát trên thập tự giá. Đó là thứ nước mà người anh thân thương, người bạn của chúng tôi, Jesus Christ đã uống, nước làm từ dấm chua và mật đắng!

Ấy cũng là thứ nước mà người đã uống trong vườn cây, khiến người đổ mồ hôi máu, ớn lạnh run rẩy và ngất lịm. Quả thực, thứ nước ấy vô cùng kinh khủng, không ai uống phải mà không khiến người lân cận nhận ra kẻ ấy đã thay đổi hoàn toàn. 

Bất cứ ai nhấp một ngụm từ chiếc cốc ấy, dĩ nhiên sẽ từ bỏ mọi thứ mà mình có ... bởi Tinh Thần Christ đã dạy, đã tiết lộ cho người đó những điều mà không ai có thể biểu đạt, không thể nào viết ra giấy. Không một ai, ngoài những người đã được tỏ lộ, biết điều đó là gì ...”

Quá đơn giản để có thể hiểu, quá dễ dàng để có thể giải thích đến nỗi câu chuyện trở nên kỳ bí.

Peter Hoover viết: 

“Bằng cách nào mà họ làm được?” Tôi đã tự hỏi đi hỏi lại chính mình điều đó. Không tiền bạc, không nhà cửa, bị truy nã và bách hại. Khi mà giấy viết khan hiếm và mực thì đắt đỏ, xuất bản hay lan truyền những cuốn sách của Anabaptist là nguy cơ nhận án tử hình. Vậy mà họ vẫn có hàng ngàn cuốn sách chép tay do những Anabaptist phân phát miễn phí! 

Chỉ có thể là ý chí God đã giúp họ. Những người Anabaptist không có tổ chức hay tập trung nào, hoàn toàn rải rác và tự phát, bằng cách nào đó họ đã kết nối khắp mọi nơi. Họ không có nhà xuất bản hay người chỉnh sửa lỗi ngữ pháp ngôn từ. Sau những cuộc càn quét quy mô lớn để đốt sạch những trang viết của họ, vẫn còn lại cho đến ngày nay hàng ngàn hàng vạn ghi chép tay, những trang thơ mà lỗi chính tả sai nghiêm trọng, câu cú âm vần lạc điệu, lủng củng, những sai sót ngữ nghĩa chấm phẩy. Văn phong thì rời rạc, thậm chí chẳng có văn phong. Nhưng God đã vận hà qua thứ văn chương bộc phát, ít học đó và đã khiến nó lay chuyển cả Châu Âu. 

Sự Từ Bỏ - Detachment

Với những người Anabaptist, theo Jesus đồng nghĩa với sự từ bỏ mọi thứ vì God, và quay về với God để ngài có thể dẫn lối chỉ đường. Như Jesus từng nói, đó là ghét bỏ (hate): Ai không ghét bỏ cha mẹ mình và từ bỏ mọi thứ mình có thì không xứng đáng với ta.” Sự từ bỏ chân thực là giết chết cái phàm thể (flesh) và sinh lại một lần nữa. 

Từ bỏ thực sự bao gồm hai điều: chịu nhận mọi bức hại và vượt qua chính mình. Khi người ta tát má bên này thì đưa thêm má bên kia... Chúng ta phải cai những đường lối bản năng của phần con để phần người được khôn lớn, như đứa trẻ phải cai sữa mẹ vậy. Chúng ta phải từ bỏ vợ và chồng, cha và mẹ, tài sản và đất đai, cả đời mình, tất cả những điều mà God đã cho mình ... vì Christ.”

Điên dại hay ngu khờ?

Một người trẻ Anabaptist trước khi bị chặt đầu ngày 19/7/1560 đã viết trong tù: 

“Trần gian này đã trở nên hoang dại, đắm chìm trong tội lỗi, bớt chút ít hoặc chẳng biết gì về God. Và giờ dạy bảo căn bản nhất của Tin Mừng lại trở nên xa lạ và bị coi là dị giáo, tà vạy trong con mắt Trần gian. Ngay khi God dựng lên một sứ giả cứu rỗi, chỉ cho người ta đường lối đúng đắn, họ lập tức khước từ không tin và cho rằng vị đó điên dại, ngu khờ. Bất cứ ai được đổ đầy Thánh Linh (Spirit) thì đều bị coi là điên ngu như thế. “

Lúc đó những người Anabaptist đều bị coi là những kẻ ảo tưởng khốn khổ (miserable fanatics) hết thuốc chữa, họ là kẻ thù của đồng loại và họ chẳng có mục tiêu nào khác ngoài làm rối ren mọi trật tự xã hội! 

Những người Anabaptist từ khắp Châu Âu, hầu hết là tầng lớp lao động và dân nghèo, đã chịu sự truy lùng của chính quyền trong suốt 100 năm. Họ chính là tổ tiên của những người Mennonite, có nhánh khác tách ra là người Amish sau này.

Những người Anabaptist cho rằng việc rửa tội trước khi biết được rõ ràng và cụ thể những tội ấy là gì, thì cũng như đặt cái cày đằng trước con trâu con ngựa, ký tên vào văn thư trước khi soạn ra nó. Truyền thống rửa tội đứa trẻ ngay khi vừa chào đời và coi đó như phép tẩy cho xong không đáp ứng được khao khát sâu sa của họ. Họ tin rằng trừ phi hiểu kỹ về cuộc đời của Jesus, hiểu về tin mừng, nếu không thì có rửa tội bằng cả biển nước cũng không lại. Nước chỉ là hình thức mà thôi. 

Những người Anabaptist đầu tiên không phải là những người sách vở, họ thậm chí không quan tâm hay biết đọc kinh thánh, hầu đa là mù chữ. Họ là những người của đời sống, người của người. Họ không đọc Tin Mừng trên giấy mực mà đọc “Ngôi Lời đã trở nên Xác Thịt và sống giữa loài người” (Tin mừng John 1:14)

“Kinh văn hay thánh thư chỉ là những ký tự bề nổi, chỉ là minh chứng cho lời God bên trong. Nếu không thì một người mù hay điếc làm sao có thể được cứu rỗi? Chúng tôi hiểu God không qua những con chữ màu xám mà qua indwelling của Christ.”

Bởi họ đã tự tin hoàn toàn vào lời Christ và Thánh Linh chỉ dẫn họ cách hiểu, những người Anabaptist thời đầu đã mất hết sợ hãi loài người. Trước toà án tử hình, mọi lời lẽ “kiêu ngạo” của họ chỉ khiến các quan xét tức giận và nhanh chóng kết liễu họ hàng loạt.

Sau những cuộc truy lùng của chính quyền, Người Anabaptist quy tụ lại thành một cộng đồng và coi Jesus là trưởng làng, “người thành lập cộng đồng đầu tiên” xứng đáng để họ từ bỏ mọi sự và đi theo. Đó là lý tưởng thời kỳ đầu của công xã này và suốt mấy trăm năm sau cho đến tận bây giờ. Chỉ trong vài chục năm từ 1527-1560 đã có hơn 60,000 người theo phái Anabaptist. Cấm không được, giết không hết, chính quyền cuối cùng cũng ngừng bức hại những dân nghèo “ngu học” đi theo Anabaptist bằng cả linh hồn và thân xác họ.

Những người đưa tin - mục vụ không có chức sắc (Anabaptist messenger) là những người đầy lòng nhiệt thành sẵn sàng chết vì Đức tin của họ. Họ là những người truyền đạo không có “giấy phép”, không phải là mục sư mà dám rửa tội cho người khác ... phần lớn trong số họ đều chết thảm. 200 người Anabaptist bao gồm nhiều gia đình có trẻ nhỏ bị hành quyết cùng lúc trên đường trốn chạy. 37 người đưa tin bị gom lại và giam vào một ngôi nhà rồi ngôi nhà bùng lửa, tất cả đều bị thiêu sống. Rất nhiều người bị hành quyết chặt đầu hay giàn thiêu trước công chúng để răn đe song số những Anabaptist vẫn mọc lên như nấm sau mưa trên khắp Châu Âu giữa thế kỷ 15. Họ thuyết giảng trong trốn chạy, trong bóng đêm, trên khắp phố phường, bất chấp tính mạng!


Trong những ngày chờ đợi một kiếp người nữa lại trôi qua, A Đường với cái đầu “hoàng tuyền” của mình chẳng biết để làm gì ngoài nghiên ngẫm những di sản văn hoá tinh thần được đúc lại trong từng câu chữ của Peter Hoover, một hậu nhân của người Anabaptist. Thời đại nào cũng có những man rợ, như bao thời đại mà loài người xưa nay vẫn là...

Biết làm sao được, vẫn phải yêu và thương lấy giống loài man di mọi rợ vô lại, như Thiên Cổ Đế vẫn thương Trần gian này. 

Biết đâu có thể nảy ra giải pháp, có thể lay chuyển càn khôn qua đôi cánh bướm vỗ, có thể làm gì đó với sức con kiến cỏ của mình... Có thể hay không, âu cũng là định mệnh truân chuyên cộng gộp của ngàn đời.

A Đường bèn sách tấn tinh thần và quyết tâm nghiêm túc Việt dịch được đến đâu hay đến đó cuốn sách có 26 chương 290 trang về người Anabaptist này, để tặng cho những người đang yêu sự thật về Tình Yêu Ấy.

C17: Nhân Chứng (On to Witness)

Giữa những cánh đồng bò sữa ở Goes trên Dutch island, tại Zuid Beveland, Joost Joosten lớn lên cùng ca hát. Cậu xuất sắc tiếng Latin ở trường trung học, nhưng trái tim cậu dành trọn cho những bài ca, và cha mẹ đã tìm được một chỗ trong dàn ca tại nhà thờ của làng dành cho cậu. 

Người ta ấn tượng về cậu bé có mái tóc vàng như thiên thần và giọng ca trong trẻo vô cùng. Vào năm 1556 vua Philip II của Spain đến thăm Netherlands. Họ mời dàn nhạc làng Goes đến hát cho vua, khi ấy cậu 14 tuổi. Vua lập tức ra lệnh: “Mang thằng bé đó lại đây. Nó phải về Spain với ta!”

Nhưng Joost không muốn đi Spain và sống trong cung quách nguy nga hoàng tộc. Cậu lẩn trốn 6 tuần cho đến khi vua kia đã rời đi hẳn. Một ngày nào đó, có người đưa tin Anabaptist đến làng và “rửa tội” cho cậu trong một buổi gặp bí mật. Kết quả là Joost bị bắt không lâu sau, vào năm 1560. Bốn quy kết được đưa ra từ cơ quan cấp cao. Trên năm trang giấy dài, Joost trình bày cho họ những điều mình tin, cậu cũng viết vài bài ca và hát trong ngục nữa.

Họ đặt Joost lên giá, lấy những thanh sắt nóng xuyên vào đầu gối cậu, xuyên tới mắt cá chân. Nhưng trái tim cậu không lay chuyển. Toà án kết tội và tuyên tử hình. Họ làm một con ngựa bằng rơm trên phố. Người ta đi thuyền tới xem, cưỡi ngựa, hay đi bộ tới xem hành hình rất đông. 

Quân lính dẫn cậu ra bằng xích sắt, chưa bao giờ người ta thấy cậu héo hon vàng vọt như vậy. Bỗng nhiên điều gì đó khiến tất cả giật mình! Là tiếng hát ai?

Tiếng hát của Joost Joosten lại 
vang lên rõ ràng, vẫn giọng ca ấy, giờ đã là của một chàng trai trưởng thành. Nhiều người trong làng khóc khi nhận ra bài hát ấy: “Ôi Chúa, trong tâm tôi luôn thấy ngài trước mặt! ...”

Họ nhét Joost vào con ngựa bằng rơm, trong đó vẫn vang lên tiếng hát khi ngọn lửa bùng bùng. Đó là sáng thứ Hai, ngay trước lễ Giáng Sinh, và Joost Joosten 18 tuổi.

No comments:

Post a Comment