C100: Nô lệ kiếp
Kiếp nô lệ ấy của hắn kể cũng sung sướng tột độ. Đi tù mà chẳng phải chịu khổ sai gì, có kẻ cung phụng từ chân đến cổ, cơm bưng nước rót, lo liệu mọi đàng. Ai bắt tội chủ tù đâu, nhưng quản tù ấy cứ trách nhiệm đầy mình như vậy. Hắn đi tù mà như đi vãn cảnh. Nhàn hạ đến nỗi ruồi bâu không thèm đuổi. Thích gì thì làm đấy, miễn sao trong phạm vi quản lý của chủ tù. Chủ tù than ôi gã mới chính là nô lệ. Nô lệ lẫn nhau! Cái quyền lực tinh thần vô hạn của nô lệ là vô song bất khả thuyết. Chỉ là nô lệ có nhận ra và vận hành được quyền lực cao cả ấy nơi họ.
Tiền bạc không phải động tay đếm hay lo kiếm, vì quản tù đã kiếm đủ cả đời giờ chẳng biết nên tiêu vào đâu mới phải. Quản tù lại phải cân luôn chi tiêu nhỏ nhặt từ chợ búa đong gạo đến xà phòng bột giặt hay thuốc men tã bỉm. A Đường không phải quản bất cứ sự vụ gì trong tù. Chỉ việc bình tâm tĩnh trí, mà suy nghĩ mọi sự sai lầm hay đúng đắn của chính mình, của trần gian. Nếu hắn muốn, ho một tiếng thì quản tù phải tự liệu mà sắp xếp từ tinh thần đến vật chất để hộ tống hắn hành trình dài đi Nepal hay Xứ Tạng, Ấn Độ hay Pakistan, biển cả hay sa mạc bất kì. Chỉ cần hắn nhất định quyết chí. Quản tù chỉ mong mỏi, yêu cầu, đòi hỏi hắn một điều duy nhất là: "Sống sao cho hẳn hoi tử tế, để quản tù có chết cũng nhắm mắt xuôi tay được."
Điều thư hai là: "Hãy yêu thương quản tù như chính mình." Thân ái, quan tâm, đừng lạnh nhạt, xa lánh quản tù. Quy phục thì thôi tùy tâm, quản tù cũng chẳng bắt nữa. Nhưng trái tim hờ hững thì xin đừng.
Nói như vậy để hắn tự biết thân biết phận mình sung sướng đến độ nào, mà cảm ơn ông trời đã cho một kiếp tù đày vi diệu.
Đi tù mà còn được bao ăn ngon đến phát ngán, mặc đẹp đến phát nản. Rồi bao sách vở hay ho, kỳ cùng gì cũng được dâng đến tận mắt chỉ việc đọc. Cũng không ai bắt phải đọc, không đọc thì nằm kềnh ra ngủ phẻ, thả hồn mà nghe nhạc, quản tù cũng chỉ nhắc nhở vài lời. Hắn cứ vậy mà ngày dài qua tháng rộng tự tung tự tác trong tù đày tâm trí, hồn thể, cuộc tình.
Rảnh rỗi, lại gõ xuống một chương về người mà hắn lưu tâm. Một sự gì đó quá hay, bay bổng, vượt khỏi những tục lệ tù túng của trần gian này... Tán thán thay là những kiếp nô lệ. Những kiếp phục vụ tình thương thường hằng.
---------------
Sojourner Truth sinh năm 1797 ở Hurley, New York, là con gái của hai vợ chồng nô lệ tên là Betsey và James Hardenbergh. Chủ của họ là Colonel Johannes Hardenbergh. Nô lệ thì được lấy tên theo họ của chủ. Cha của Sojourner cũng được gọi là Baumfree, một từ trong tiếng Dutch có nghĩa là cây, bởi vì ông trông có vẻ vạm vỡ như một cái cây vậy. Sojourner lớn lên cũng như cha mình, to cao, thẳng thắn, và khỏe.
Khi Sojourner ra đời, cha mẹ gọi cô là Isabella hay Belle. Nhiều năm sau, khi đã được tự do, cô đổi tên mình thành Sojourner Truth. Isabella có nhiều anh chị em, hầu hết họ đều bị bán như bao nô lệ khác, dưới tay những người buôn nô lệ. Thỉnh thoảng vào ban đêm, mẹ cô nhìn lên trời và buồn bã nói: "Nhìn đi con, cũng chính những ngôi sao này, mặt trăng này, đang nhìn xuống các anh chị em con đó... nhưng họ ở xa đây, cách rất xa nhau mỗi người."
Isabella ghét cách mà nô lệ kiếp đã chia cắt gia đình bao người. Khi cô lên 3, chủ nô của cả nhà cô qua đời. Con trai ông ấy lên làm chủ. Chủ mới này không tốt. Cả nhà Isabella cùng những nô lệ khác phải sống trong những căn hầm ẩm thấp và lạnh lẽo. Khi Isabella lên 9, cô bị tách khỏi gia đình và bán cho một chủ khác, là ông bà John Neely, họ đánh đập cô rất nhiều.
Isabella được mẹ dạy cầu nguyện và tin vào God. Hai năm sau, ông bà John Neely lại bán cô cho Martin Schryver, một người đánh cá và làm mực in. Một năm sau nữa, cô lại được sang tay cho John Dumont. Cô làm việc chăm chỉ cho John Dumont đến nỗi ông chủ này phải tán thán với bạn bè rằng: "Nô lệ tốt ấy có thể giặt cả núi quần áo cho cả nhà vào ban đêm, và sáng sớm đã sẵn sàng ra đồng làm việc tiếp. Sức làm gấp đôi những bàn tay lao động giỏi nhất của tôi." Khi ấy, Isabella gặp Robert, cũng là một nô lệ làm việc trên cánh đồng cạnh nhà. Cả hai hẹn hò và bị bắt gặp. Robert bị đánh thậm tệ, họ trói anh lại và đưa đi. Từ đó cả hai không bao giờ gặp lại.
Isabella kết hôn với Thomas, một nô lệ cùng thuộc sở hữu của ông chủ Dumont. Ông chủ sắp đặt vậy để tăng số nô lệ sở hữu. Isabella và Thomas có 5 người con: Diana, Elizabeth, Hannah, Peter, và Sophia. Vào năm 1817, một luật mới ở New York được ban hành, thả tự do cho Isabella cũng như mọi nô lệ khác sau thời hạn 10 năm nữa. Ông chủ hứa sẽ trao tự do cho cô sau 9 năm, nếu cô tiếp tục làm việc chăm chỉ. Isabella làm việc trên đồng, cày cấy, thu hái, đủ mọi việc. Nhưng đến thời hạn, ông chủ lại nuốt lời.
Cô giận dữ và quyết định bỏ trốn. Nhưng cô vẫn hoàn thành nốt việc được giao. Quay sợi 100 pounds (khoảng 50 kg) lông cừu. Xong xuôi, sáng sớm, cô mang theo con gái út chưa đầy một tuổi chạy trốn. Cô tới nhà Levi Rowe, một nhà nông Quaker cũng ghét sự nô dịch. Ông giúp cô bằng cách gửi cô tới chỗ ông bà Isaac và Maria Van Wagener. Chủ cũ Dumont tìm được cô ở đó và yêu cầu cô quay lại. Nhưng không, cô kiên quyết đáp. Nhà Wagener trả cho Dumont một số tiền chuộc nhất định để cô và con gái cô được tự do. Isabella lao động cho Wagener qua mùa đông 1826. Sang năm sau đó, cô hay tin con trai 5 tuổi của cô là Peter đã bị Dumont bán cho Solomon Gedney, và người này lại bán tiếp cho một kẻ khác ở tận Alabama. Việc bán nô lệ từ bang này sang bang khác như vậy là trái pháp luật.
Isabella nói với Dumont: "Tôi sẽ đòi con tôi về."
Cô tới tòa án, kiện Solomon, và thắng. Cô là người phụ nữ Da Đen đầu tiên ở Mỹ thắng kiện trong phiên tòa đối lại người da trắng. Năm 1829, Isabella đưa Peter trở về và vẫn làm việc như nô lệ bình thường. 1833, cô tham gia một cộng đồng ở New York gọi là "Kingdom of God" (Nước Trời). Cô góp toàn bộ tiền bạc của mình vào đây và cả công sức nữa. 1834, lãnh đạo của cộng đồng qua đời. Isabella bị buộc tội trên một tờ báo New York rằng cô đã đầu độc ông. Cô kiện tờ báo ấy và lại dành chiến thắng. Người tung tin sai sự thật phải bồi thường Isabella $125. Người phụ nữ da đen này có một thẩm quyền gì đó khiến quan tòa phải nể sợ, dù cô chỉ là một nô lệ. Cô nói: "Người giàu cướp của kẻ nghèo. Và kẻ nghèo cướp lẫn nhau." Năm 1843, cô nói với chủ nô của mình lúc bấy giờ: "Tinh Thần đang gọi tôi, tôi phải lên đường." Tôi không còn là Isabella nữa, mà sẽ là Sojourner (nghĩa đen: người tạm trú).
Bởi cô dự định sẽ chỉ tạm trú, cứ đi khắp nơi, vừa đi vừa nghỉ, đến thăm nhiều chỗ, và thuyết giáo. Và bởi cô coi God là chủ nhân duy nhất của mình, tên ngài là Truth (Sự Thật), nên cô lấy họ mới đặt cho mình theo đó: Sojourner Truth.
Hành trình của Sojourner đưa cô vượt hàng ngàn dặm, qua khắp các bang của nước Mỹ. Cô giảng về tôn giáo, lên tiếng về nô dịch, đại diện cho lẽ phải của phụ nữ. Sự khiêm tốn, chân thực, và sức mạnh trong cô khiến cô trở thành một trong những nhà hùng biện nổi tiếng nhất đương thời. Sojourner Truth không hề biết đọc hay biết viết, nhưng bất cứ nơi nào cô đến, cộng đồng đều hoan nghênh cô. Những người có tiếng nói chống nô lệ tới nghe cô giảng. Cô biết về Kinh Thánh qua tâm. Cô nói: "Tôi nói với God, God nói với tôi."
Một người phụ nữ kể lại dáng vẻ của Sojourner Truth: "Cao 6 feet, đầu thẳng đứng, mắt sắc nhọn xuyên qua tầng không như một người trong mơ. Lời đầu tiên cô nói là một sự im lặng thăm thẳm. Cô nói bằng tông giọng trầm, dù không to, nhưng có thể chạm tới từng đôi tai trong phòng."
Sojourner Truth gọi những chủ nô là kẻ có tội, sẽ sớm bị trừng phạt bởi God. Cô cười vào ý nghĩ coi thường phụ nữ là phái yếu, yếu hơn đàn ông. "Nhìn tôi đi" cô nói. "Tôi đã cày bừa và trồng trọt ... tôi có phải là phụ nữ?" Rồi cô sắn lên tay áo và khoe ra cơ bắp mình. "Các chị em! Nếu phụ nữ muốn lẽ phải, hơn những gì mình có, thì tại sao không tự tay lấy chúng, đừng chỉ nói."
Năm 1849, cô về thăm chủ cũ Dumont. Ông hối lỗi: "Những ngày nô dịch khi trước, không có mấy ai phản kháng sự ấy. Giờ nô dịch đã là thứ xấu xa nhất trên đời, lời nguyền mà quả đất đã nhận." 1850, cô được người ta phỏng vấn và lên sách. Tiền từ sách cô dành để tiếp tục di chuyển và giảng. 1857, cô mua một ngôi nhà ở Michigan và đón một số người con cùng cháu về ở. 1861, nội chiến Mỹ bắt đầu, một cuộc chiến để chấm dứt nô lệ kiếp cho cả quốc gia. Cô quyên tiền để nuôi quân lính - những người da đen mới được nhập ngũ do Abraham Lincoln huy động. 1864, cô có cuộc gặp với tổng thống Lincoln, sau đó cô nói: "Tôi chưa bao giờ được bất cứ ai đối đãi bằng lòng tử tế và sự chân thành đến vậy. Tôi cảm như gặp một người bạn tốt." Cô nói với Lincoln: "Ông là tổng thống tốt nhất từng nhận chức."
Khi tới Washington D.C, những kẻ buôn nô lệ ở Maryland lùng bắt nô lệ. Sojourner Truth tập hợp quân lính của nhà nước, đánh đuổi những kẻ đó. Cô được chọn làm cố vấn giải phóng nô lệ ở Virginia. Cô cũng làm việc trong bệnh viện nữa. Khi ấy người da đen và da trắng chia biệt nhau kể từ chỗ ngồi. Những lái xe thường không dừng xe để đón người da đen. Sojourner phản ánh với tổng thống về việc này song vẫn khó giải quyết. Một hôm cô chắn ngang đường xe ngựa kéo, buộc người đang lái xe phải dừng lại. Khi người ta đối xử bất công với cô, cô cho họ biết thế nào là lễ độ. Đây là việc mà người phụ nữ này làm giỏi. Cô lên tiếng không chỉ cho chính mình. Từ ấy, da đen và da trắng ngồi trên xe cạnh nhau như hạt tiêu và muối trên bàn.
1865, Abraham Lincoln bị ám sát. Những năm 1870, rất nhiều nô lệ đã được tự do nhưng rơi vào cảnh thất nghiệp, không có việc làm bởi chủ nô không mướn, họ sống trong thậm tệ đói nghèo. Sojourner Truth sớm nhận ra sự thật rằng tự do khỏi kiếp nô lệ không có nghĩa là tự do khỏi nghèo đói, khinh ghét, và phân biệt đối xử. Sojourner Truth đã mơ về công lý cho tất cả mọi người, da đen và da trắng, đàn ông và đàn bà.
Sojourner Truth qua đời ngày 26 tháng 11 năm 1883, giấc mơ của bà vẫn chưa hoàn tất. Nhưng bà là một trong những người can đảm, thẳng thắn nhất, mở đường cho nỗ lực ấy.
Wednesday, June 24, 2026
C100: Nô Lệ Kiếp
Subscribe to:
Post Comments (Atom)





No comments:
Post a Comment