Wednesday, June 24, 2026

C101: Thân Nhân Quả

C101: Thân Nhân Quả

Nếu coi mọi điều xảy đến, mọi cuộc hội ngộ của đời người là do Nhân Quả - Máy Trời tự động sắp đặt. Thì có phải hay không?  Việc Jesus bị đóng đinh hay một ai đó thiện lương bị chặt đầu, cũng là do "Nghiệp" tự tạo mà thành? Có thể họ đã làm điều xấu ác trong một tiền kiếp xa lắc xa lơ nào? ...

Nếu con người cũng như Cây cỏ, mưa nắng trời ban công bằng. Cây cỏ ngã đổ, rạp đi trong giông bão, hay chết khô chết héo trong cằn cỗi bao mùa. Thì cũng là do "nghiệp" nhân quả của Cây hay sao?

Những thuận và nghịch duyên cứ theo nhau như nắng mưa luân chuyển. A Đường ngồi một chỗ mà xem về người mù sáng tạo chữ nổi cho người mù đọc (
Louis Braille), hay người điếc (Beethoven) soạn nhạc giao hưởng thính phòng cho người thính nghe. Bao tấm gương sống truyền cảm hứng tích cực, bao câu chuyện ý nghĩa. Nhưng nỗi sợ hãi về Nhân Quả Luật cứ lảng vảng trong đầu hắn. Có ai đó nói: Nếu bắt một kẻ phải trả mọi quả ác mà y đã vô tình hay cố ý gây tạo, chỉ trong một đời một kiếp phải lãnh nhận tất cả những ác báo ấy. Thì hắn ắt sẽ không thể sống nổi!

Ngộ nhỡ, vị chủ tù bên hắn kiếp này là lão cao đồ ngu xuẩn năm nào, phạm tội "phá hòa hợp tăng"...
Ngộ nhỡ, quản tù ấy trong một lần cay đắng tàn bạo mà đã moi tim người sống để "tế lên người chết"...
Ngộ nhỡ, kẻ ngu đạo ấy chính là kẻ đã thẳng tay thiến đi thể xác và linh hồn của "một bậc thầy" ...
Đã bẻ cánh uyên ương, chia lìa tình ...
Đã nhạo báng khinh thường lòng tin của kẻ khác!?

Mèn ơi. Nếu kẻ ấy phải trả tất cả những nhân xấu của mình chỉ trong một đời...?!

A Đường không phải là Trời, không thể tự cho mình cái quyền "thay trời hành Đạo". Và lại, mọi sự suy diễn trong hắn biết đâu là thật, đâu là giả. Hắn một đời nghĩ xem làm cách nào để "thiến" đi mọi dục vọng, mê cuồng, hồng trần trong mình.

Rồi chợt vỡ lẽ rằng mọi sự dữ tợn kể cả trong suy nghĩ ấy, đều là ác hạnh. Nếu người ta có thể nhẹ nhàng mà sống với nhau, thì đâu đến nỗi phải "mắt đền mắt, tay đền tay", cắt bỏ, tổn thương bất cứ sự gì mục ruỗng, thối tha nào .. Chết chóc khổ đau nào chạm tới Thiên đàng?

Lầm than!

- - - - - - - - - - - - - - - - - - - -

Lời khấn nguyện

Kính lạy Mười phương Phật

Kính lạy Mười phương Pháp

Kính lạy Mười phương Tăng

Xin chứng giám lòng con

Với tất cả tâm thành

Dâng lên lời khấn nguyện


Xin cho con mãi mãi

Lòng tôn kính vô biên

Hơn núi biển mông mênh

Dâng lên Mười phương Phật

-

Xin cho con mãi mãi

Lòng thương yêu không cùng

Trải thế giới tam thiên

Đến chúng sinh vô tận

-

Xin cho khắp muôn loài

Sống yên lành bên nhau

Không ganh ghét oán thù

Không chiến tranh giết chóc

-

Xin cho kẻ bất thiện

Biết tin có luân hồi

Có nghiệp báo trả vay

Để hồi đầu hướng thiện

-

Xin kẻ mù được sáng

Kẻ điếc lại được nghe

Kẻ nghèo được ấm no

Kẻ ốm đau bình phục

-

Xin cho loài cầm thú

Thoát được nghiệp ngu si

Tái sinh vào cõi người

Biết tu theo Phật Pháp

-

Các vong linh vất vưởng

Trong cõi giới u huyền

Thoát nghiệp đói triền miên

Quy y và siêu thoát

-

Xin cho nơi địa ngục

Chúng sinh đang đọa đày

Khởi được tâm từ bi

Để xa lìa cảnh khổ

-

Cúi xin Mười phương Phật

Chư Bồ Tát Thánh Hiền

Đem chánh pháp thiêng liêng

Sáng soi nghìn thế giới

-

Cho chúng con mãi mãi

Dù sinh về nơi đâu

Đều gặp pháp nhiệm mầu

Để nương theo tu tập

-

Cho con biết khiêm hạ

Biết tôn trọng mọi người

Tự thấy mình nhỏ thôi

Việc tu còn kém cỏi

-

Cho tay con rộng mở

Biết san sẻ cúng dường

Biết giúp đỡ yêu thương

Đến những người khốn khó

-

Xin cho con bình thản.

Trước nghịch cảnh cuộc đời

Dù bị mắng bằng lời

Hay bằng điều mưu hại

-

Xin tâm con sung sướng

Khi thấy người thành công

Hoặc gây tạo phước lành

Như chính con làm được

-

Cho con biết im lặng

Không nói lỗi của người

Chỉ lặng lẽ dùng lời

Cầu cho người hết lỗi

-

Xin vòng dây tham ái

Rời khỏi cuộc đời con

Để cho trái tim con

Biết yêu thương tất cả

-

Cúi lạy mười phương Phật

Đau khổ đã nhiều rồi

Vô lượng kiếp luân hồi

Đắng cay và mõi mệt

-

Nay con dâng lời nguyện

Giải thoát quyết tìm về

Giác ngộ quyết lìa mê

Độ sinh đền ơn Phật.

***

NAM MÔ BẢN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT. (3 lần)

-

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

NAM MÔ ĐẠI LỰC ĐẠI THẾ CHÍ BỒ TÁT

NAM MÔ QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT

 

Louis Braille: 3 tuổi mù mắt và Phát minh chữ nổi! 👁️✨

Ông sinh ngày 04/01/1809 tại thị trấn miền quê Coupvray, ngoại ô thủ đô Paris, nước Pháp. Cuộc đời ông là một hành trình đi từ bi kịch tàn khốc đến phép màu nhân văn thay đổi lịch sử.
 
👁️ Bi kịch tuổi lên 3: Trong một lần chơi đùa tại xưởng da của bố, khi cậu đang tìm cách đục lỗ vào một miếng da to và nặng quá khổ so với cậu, chiếc dùi đã bị gãy và văng vào mắt bên trái. Vết thương nhiễm trùng nặng rồi lây sang mắt còn lại, khiến cậu mù hoàn toàn năm 5 tuổi. Thời bấy giờ, mù lòa đồng nghĩa với một cuộc đời tăm tối, thụ động và bị gạt ra ngoài lề xã hội.
 
❌ Không cam chịu số phận: Dù sống trong bóng tối, Louis vẫn khao khát học tập. Khi biết đến hệ thống "văn bản đêm" gồm 12 chấm phức tạp của quân đội Pháp, Louis nhận ra nó quá thô sơ và khó dùng. Cậu quyết định tự mình "đập đi xây lại" toàn bộ cấu trúc.
 
💡 Phát minh vĩ đại tuổi 15: Thay vì cải tiến thô sơ, Louis đã PHÁT MINH ra một hệ thống hoàn toàn mới. Cậu thu gọn lại chỉ còn khung 6 chấm nổi — vừa vặn hoàn hảo dưới một đầu ngón tay. Đây là một ngôn ngữ ký tự hoàn chỉnh từ chữ cái, chữ số, dấu câu cho đến cả nốt nhạc!
 
Chính chiếc dùi nhọn năm xưa làm mù mắt ông, giờ đây lại được ông dùng để dập từng chấm nổi trên giấy, mở ra cánh cửa tri thức giải phóng tư duy cho hàng triệu người khiếm thị trên toàn thế giới.
 
🕊️ Di sản xuyên thế kỷ:
Dù từng bị cấm đoán tại trường học lúc sinh thời vì các giáo viên mắt sáng không hiểu được, chữ Braille đã chiến thắng thời gian. Đến tận ngày nay, chữ nổi Braille vẫn hiện hữu trên các nút bấm thang máy, bàn phím máy tính, bao bì thuốc... giúp người khiếm thị tự chủ cuộc đời.
Để vinh danh đóng góp vĩ đại của ông, Liên Hợp Quốc đã chính thức chọn ngày 4 tháng 1 hằng năm (ngày sinh của Louis Braille) làm Ngày Chữ nổi Thế giới, như một lời nhắc nhở về nghị lực phi thường có thể thay đổi số phận của hàng triệu con người. 💪

C100: Nô Lệ Kiếp

 C100: Nô lệ kiếp

Kiếp nô lệ ấy của hắn kể cũng sung sướng tột độ. Đi tù mà chẳng phải chịu khổ sai gì, có kẻ cung phụng từ chân đến cổ, cơm bưng nước rót, lo liệu mọi đàng. Ai bắt tội chủ tù đâu, nhưng quản tù ấy cứ trách nhiệm đầy mình như vậy. Hắn đi tù mà như đi vãn cảnh. Nhàn hạ đến nỗi ruồi bâu không thèm đuổi. Thích gì thì làm đấy, miễn sao trong phạm vi quản lý của chủ tù. Chủ tù than ôi gã mới chính là nô lệ. Nô lệ lẫn nhau! Cái quyền lực tinh thần vô hạn của nô lệ là vô song bất khả thuyết. Chỉ là nô lệ có nhận ra và vận hành được quyền lực cao cả ấy nơi họ.

Tiền bạc không phải động tay đếm hay lo kiếm, vì quản tù đã kiếm đủ cả đời giờ chẳng biết nên tiêu vào đâu mới phải. Quản tù lại phải cân luôn chi tiêu nhỏ nhặt từ chợ búa đong gạo đến xà phòng bột giặt hay thuốc men tã bỉm. A Đường không phải quản bất cứ sự vụ gì trong tù. Chỉ việc bình tâm tĩnh trí, mà suy nghĩ mọi sự sai lầm hay đúng đắn của chính mình, của trần gian. Nếu hắn muốn, ho một tiếng thì quản tù phải tự liệu mà sắp xếp từ tinh thần đến vật chất để hộ tống hắn hành trình dài đi Nepal hay Xứ Tạng, Ấn Độ hay Pakistan, biển cả hay sa mạc bất kì. Chỉ cần hắn nhất định quyết chí. Quản tù chỉ mong mỏi, yêu cầu, đòi hỏi hắn một điều duy nhất là: "Sống sao cho hẳn hoi tử tế, để quản tù có chết cũng nhắm mắt xuôi tay được."

Điều thư hai là: "Hãy yêu thương quản tù như chính mình." Thân ái, quan tâm, đừng lạnh nhạt, xa lánh quản tù. Quy phục thì thôi tùy tâm, quản tù cũng chẳng bắt nữa. Nhưng trái tim hờ hững thì xin đừng.

Nói như vậy để hắn tự biết thân biết phận mình sung sướng đến độ nào, mà cảm ơn ông trời đã cho một kiếp tù đày vi diệu.

Đi tù mà còn được bao ăn ngon đến phát ngán, mặc đẹp đến phát nản. Rồi bao sách vở hay ho, kỳ cùng gì cũng được dâng đến tận mắt chỉ việc đọc. Cũng không ai bắt phải đọc, không đọc thì nằm kềnh ra ngủ phẻ, thả hồn mà nghe nhạc, quản tù cũng chỉ nhắc nhở vài lời. Hắn cứ vậy mà ngày dài qua tháng rộng tự tung tự tác trong tù đày tâm trí, hồn thể, cuộc tình.

Rảnh rỗi, lại gõ xuống một chương về người mà hắn lưu tâm. Một sự gì đó quá hay, bay bổng, vượt khỏi những tục lệ tù túng của trần gian này... Tán thán thay là những kiếp nô lệ. Những kiếp phục vụ tình thương thường hằng.

---------------


Sojourner Truth sinh năm 1797 ở Hurley, New York, là con gái của hai vợ chồng nô lệ tên là Betsey và James Hardenbergh. Chủ của họ là Colonel Johannes Hardenbergh. Nô lệ thì được lấy tên theo họ của chủ. Cha của Sojourner cũng được gọi là Baumfree, một từ trong tiếng Dutch có nghĩa là cây, bởi vì ông trông có vẻ vạm vỡ như một cái cây vậy. Sojourner lớn lên cũng như cha mình, to cao, thẳng thắn, và khỏe.

Khi Sojourner ra đời, cha mẹ gọi cô là Isabella hay Belle. Nhiều năm sau, khi đã được tự do, cô đổi tên mình thành Sojourner Truth. Isabella có nhiều anh chị em, hầu hết họ đều bị bán như bao nô lệ khác, dưới tay những người buôn nô lệ. Thỉnh thoảng vào ban đêm, mẹ cô nhìn lên trời và buồn bã nói: "Nhìn đi con, cũng chính những ngôi sao này, mặt trăng này, đang nhìn xuống các anh chị em con đó... nhưng họ ở xa đây, cách rất xa nhau mỗi người."

Isabella ghét cách mà nô lệ kiếp đã chia cắt gia đình bao người. Khi cô lên 3, chủ nô của cả nhà cô qua đời. Con trai ông ấy lên làm chủ. Chủ mới này không tốt. Cả nhà Isabella cùng những nô lệ khác phải sống trong những căn hầm ẩm thấp và lạnh lẽo. Khi Isabella lên 9, cô bị tách khỏi gia đình và bán cho một chủ khác, là ông bà John Neely, họ đánh đập cô rất nhiều.

Isabella được mẹ dạy cầu nguyện và tin vào God. Hai năm sau, ông bà John Neely lại bán cô cho Martin Schryver, một người đánh cá và làm mực in. Một năm sau nữa, cô lại được sang tay cho John Dumont. Cô làm việc chăm chỉ cho John Dumont đến nỗi ông chủ này phải tán thán với bạn bè rằng: "Nô lệ tốt ấy có thể giặt cả núi quần áo cho cả nhà vào ban đêm, và sáng sớm đã sẵn sàng ra đồng làm việc tiếp. Sức làm gấp đôi những bàn tay lao động giỏi nhất của tôi." Khi ấy, Isabella gặp Robert, cũng là một nô lệ làm việc trên cánh đồng cạnh nhà. Cả hai hẹn hò và bị bắt gặp. Robert bị đánh thậm tệ, họ trói anh lại và đưa đi. Từ đó cả hai không bao giờ gặp lại.

Isabella kết hôn với Thomas, một nô lệ cùng thuộc sở hữu của ông chủ Dumont. Ông chủ sắp đặt vậy để tăng số nô lệ sở hữu. Isabella và Thomas có 5 người con: Diana, Elizabeth, Hannah, Peter, và Sophia. Vào năm 1817, một luật mới ở New York được ban hành, thả tự do cho Isabella cũng như mọi nô lệ khác sau thời hạn 10 năm nữa. Ông chủ hứa sẽ trao tự do cho cô sau 9 năm, nếu cô tiếp tục làm việc chăm chỉ. Isabella làm việc trên đồng, cày cấy, thu hái, đủ mọi việc. Nhưng đến thời hạn, ông chủ lại nuốt lời.

Cô giận dữ và quyết định bỏ trốn. Nhưng cô vẫn hoàn thành nốt việc được giao. Quay sợi 100 pounds (khoảng 50 kg) lông cừu. Xong xuôi, sáng sớm, cô mang theo con gái út chưa đầy một tuổi chạy trốn. Cô tới nhà Levi Rowe, một nhà nông Quaker cũng ghét sự nô dịch. Ông giúp cô bằng cách gửi cô tới chỗ ông bà Isaac và Maria Van Wagener. Chủ cũ Dumont tìm được cô ở đó và yêu cầu cô quay lại. Nhưng không, cô kiên quyết đáp. Nhà Wagener trả cho Dumont một số tiền chuộc nhất định để cô và con gái cô được tự do. Isabella lao động cho Wagener qua mùa đông 1826. Sang năm sau đó, cô hay tin con trai 5 tuổi của cô là Peter đã bị Dumont bán cho Solomon Gedney, và người này lại bán tiếp cho một kẻ khác ở tận Alabama. Việc bán nô lệ từ bang này sang bang khác như vậy là trái pháp luật.

Isabella nói với Dumont:  "Tôi sẽ đòi con tôi về."

Cô tới tòa án, kiện Solomon, và thắng. Cô là người phụ nữ Da Đen đầu tiên ở Mỹ thắng kiện trong phiên tòa đối lại người da trắng. Năm 1829, Isabella đưa Peter trở về và vẫn làm việc như nô lệ bình thường. 1833, cô tham gia một cộng đồng ở New York gọi là "Kingdom of God" (Nước Trời). Cô góp toàn bộ tiền bạc của mình vào đây và cả công sức nữa. 1834, lãnh đạo của cộng đồng qua đời. Isabella bị buộc tội trên một tờ báo New York rằng cô đã đầu độc ông. Cô kiện tờ báo ấy và lại dành chiến thắng. Người tung tin sai sự thật phải bồi thường Isabella $125. Người phụ nữ da đen này có một thẩm quyền gì đó khiến quan tòa phải nể sợ, dù cô chỉ là một nô lệ. Cô nói: "Người giàu cướp của kẻ nghèo. Và kẻ nghèo cướp lẫn nhau." Năm 1843, cô nói với chủ nô của mình lúc bấy giờ: "Tinh Thần đang gọi tôi, tôi phải lên đường." Tôi không còn là Isabella nữa, mà sẽ là Sojourner (nghĩa đen: người tạm trú).

Bởi cô dự định sẽ chỉ tạm trú, cứ đi khắp nơi, vừa đi vừa nghỉ, đến thăm nhiều chỗ, và thuyết giáo. Và bởi cô coi God là chủ nhân duy nhất của mình, tên ngài là Truth (Sự Thật), nên cô lấy họ mới đặt cho mình theo đó: Sojourner Truth.

Hành trình của Sojourner đưa cô vượt hàng ngàn dặm, qua khắp các bang của nước Mỹ. Cô giảng về tôn giáo, lên tiếng về nô dịch, đại diện cho lẽ phải của phụ nữ. Sự khiêm tốn, chân thực, và sức mạnh trong cô khiến cô trở thành một trong những nhà hùng biện nổi tiếng nhất đương thời. Sojourner Truth không hề biết đọc hay biết viết, nhưng bất cứ nơi nào cô đến, cộng đồng đều hoan nghênh cô. Những người có tiếng nói chống nô lệ tới nghe cô giảng. Cô biết về Kinh Thánh qua tâm. Cô nói: "Tôi nói với God, God nói với tôi."

Một người phụ nữ kể lại dáng vẻ của Sojourner Truth: "Cao 6 feet, đầu thẳng đứng, mắt sắc nhọn xuyên qua tầng không như một người trong mơ. Lời đầu tiên cô nói là một sự im lặng thăm thẳm. Cô nói bằng tông giọng trầm, dù không to, nhưng có thể chạm tới từng đôi tai trong phòng."

Sojourner Truth gọi những chủ nô là kẻ có tội, sẽ sớm bị trừng phạt bởi God. Cô cười vào ý nghĩ coi thường phụ nữ là phái yếu, yếu hơn đàn ông. "Nhìn tôi đi" cô nói. "Tôi đã cày bừa và trồng trọt ... tôi có phải là phụ nữ?" Rồi cô sắn lên tay áo và khoe ra cơ bắp mình. "Các chị em! Nếu phụ nữ muốn lẽ phải, hơn những gì mình có, thì tại sao không tự tay lấy chúng, đừng chỉ nói."

Năm 1849, cô về thăm chủ cũ Dumont. Ông hối lỗi: "Những ngày nô dịch khi trước, không có mấy ai phản kháng sự ấy. Giờ nô dịch đã là thứ xấu xa nhất trên đời, lời nguyền mà quả đất đã nhận." 1850, cô được người ta phỏng vấn và lên sách. Tiền từ sách cô dành để tiếp tục di chuyển và giảng. 1857, cô mua một ngôi nhà ở Michigan và đón một số người con cùng cháu về ở. 1861, nội chiến Mỹ bắt đầu, một cuộc chiến để chấm dứt nô lệ kiếp cho cả quốc gia. Cô quyên tiền để nuôi quân lính - những người da đen mới được nhập ngũ do Abraham Lincoln huy động. 1864, cô có cuộc gặp với tổng thống Lincoln, sau đó cô nói: "Tôi chưa bao giờ được bất cứ ai đối đãi bằng lòng tử tế và sự chân thành đến vậy. Tôi cảm như gặp một người bạn tốt." Cô nói với Lincoln: "Ông là tổng thống tốt nhất từng nhận chức."

Khi tới Washington D.C, những kẻ buôn nô lệ ở Maryland lùng bắt nô lệ. Sojourner Truth tập hợp quân lính của nhà nước, đánh đuổi những kẻ đó. Cô được chọn làm cố vấn giải phóng nô lệ ở Virginia. Cô cũng làm việc trong bệnh viện nữa. Khi ấy người da đen và da trắng chia biệt nhau kể từ chỗ ngồi. Những lái xe thường không dừng xe để đón người da đen. Sojourner phản ánh với tổng thống về việc này song vẫn khó giải quyết. Một hôm cô chắn ngang đường xe ngựa kéo, buộc người đang lái xe phải dừng lại. Khi người ta đối xử bất công với cô, cô cho họ biết thế nào là lễ độ. Đây là việc mà người phụ nữ này làm giỏi. Cô lên tiếng không chỉ cho chính mình. Từ ấy, da đen và da trắng ngồi trên xe cạnh nhau như hạt tiêu và muối trên bàn.

1865, Abraham Lincoln bị ám sát. Những năm 1870, rất nhiều nô lệ đã được tự do nhưng rơi vào cảnh thất nghiệp, không có việc làm bởi chủ nô không mướn, họ sống trong thậm tệ đói nghèo. Sojourner Truth sớm nhận ra sự thật rằng tự do khỏi kiếp nô lệ không có nghĩa là tự do khỏi nghèo đói, khinh ghét, và phân biệt đối xử. Sojourner Truth đã mơ về công lý cho tất cả mọi người, da đen và da trắng, đàn ông và đàn bà.

Sojourner Truth qua đời ngày 26 tháng 11 năm 1883, giấc mơ của bà vẫn chưa hoàn tất. Nhưng bà là một trong những người can đảm, thẳng thắn nhất, mở đường cho nỗ lực ấy.







C99: A Đù tái ngộ

C99: A Đù tái ngộ


Từ khi trở thành tru tiên, tán hồn hắn đã mất tiêu hết thảy tu vi sâu dày từ thủa nào. 

Nói gì đến thần thông cao siêu thuật pháp, chỉ đến việc hiểu chính bản thân mình, hắn còn không thể. Hắn không phân biệt được gì là ảo tưởng ảo cảm, chi là chân thật chân tri. Đời hắn đã dành quá nửa vào tục sự ái tình. Lục Dục (Sắc - Thanh - Hương - Vị - Xúc - Pháp), và bao "triền miên cái" tham - sân - si - mạn - nghi trong hắn những tưởng đã dứt sạch, nay trở lại và lợi hại gấp nhiều lần. Hắn đã là phàm nhân, đích thị phải ngụp lặn trong Hải Dục Hồi Cuồng miền hạ. Biết bơi, biết thở, biết quẫy, biết đạp ... chỉ vậy là đã mừng, huống gì cưỡi sóng cưỡi cá mà thị hiện thần thông... Có chăng chỉ là cơn mơ trong cõi A Còng siêu thực.

Đã lâu không trò chuyện với cái bóng của chính mình. Hắn lại lẩn thẩn ngồi nhìn vào bức vách (nay là cái màn hình laptop). Ngọn nến chính là khúc xạ ánh sáng trắng trên màn hình toàn những con chữ nhảy. Hắn cười vào mấy con chữ chẳng mấy ai đoái hoài này. Cũng cười vào chính mình mông muội toàn tập. Đâu đó chợt nghe tiếng A Đù trong đầu gạn hỏi:

A Đù: Sao ngươi cứ thích tự mình đù mình vậy?

A Đường: Ngươi thôi hỏi những câu hỏi vô nghĩa đi có được không?

A Đù: Chẳng có câu hỏi nào là vô nghĩa trên đời này đâu.

A Đường: Ngươi có tin không? Có tin ta có thể hồi phục tiên lực và tu vi sâu dày sau tất cả?

A Đù: Nhúng tràm, tắm bùn lâu quá rồi. Thì tự phải thanh tẩy, xóa cả hình săm trong tâm hồn nữa, ngươi phải tự tin mình ...

A Đường: Ta săm hình gì mà ngươi dám bảo?

A Đù: Hình săm vô hình, chỉ mình ngươi nhìn thấy thôi. Mấy hình săm ấy là bóng ma tâm thức, nghiệp thức của ngươi do chấp ngã vi khởi bao đời. Nhìn mắt thường không thấy đâu. Giống như Long Hải Hội với Hùm Cọp Nhóm ấy. Ngươi cũng có săm đầy mình những hình tâm thức. Chằng chịt hoa văn kinh dị lắm!

A Đường: Ngươi đừng dọa ta.

A Đù: Dọa gì đâu. Bất cứ ai trên đời này cũng có, không chỉ mình ngươi đâu.

A Đường: ...

A Đù: Người sợ điều gì, trời sẽ trao điều đó. Ghét của nào, trời càng giao của vậy!

A Đường: Ta sợ và ghét những kẻ ngu mà mạnh.

A Đù: Thì đó... cho đến khi nào chính ngươi ngu mà mạnh! Ắt sẽ hết sợ. Ngươi phải trở thành cái thứ mà ngươi sợ.

A Đường: Ta sợ và ghét những kẻ ăn thịt uống máu trẻ nhỏ. Moi tim và chặt đầu kẻ khác không ghê tay.

A Đù: Thôi, đừng sợ hay ghét điều gì nữa. Chứ không thì khổ cho ngươi thôi. Cứ phải khổ vì quái vật mãi. Bao giờ mới xong?

A Đường: Ta muốn ăn chay!

A Đù: Thôi, đừng muốn bất cứ một thứ gì. Ngộ nhỡ ý muốn không đáp ứng được như nguyện thì lại phải day dứt nữa.

A Đường: Kể cho ngươi vụ này. Trước đây ta từng lập chí trường chay. Lập chí bỏ nhà ra đi, "tự thân lập thành đại đạo". Bỏ nhà đi thì phải có kế sinh nhai mới từ từ tính tiếp được. Ta mò vào một quán bia nhậu ven hồ Tây. Được chủ quán dẫn tới một quán khác. Quán này rất nhiều bát đũa bẩn chưa rửa vì thiếu nhân sự. Ta sắn tay áo rửa cả ngày trời, đổ bao nhiêu vỏ tôm vỏ ốc... Tối được ăn rau cải xào mà đầu bếp dạy phải lửa to đùng đùng xào mới ngọt... Tiếc rằng ta bỏ việc trong ngày thứ ba, lẻn đi khi mặt trời còn chưa mọc. Lại xách ba lô về nhà. Nguyên nhân vì, gặp được một người này làm ta thay đổi quyết định. Cái tính hay thay đổi quyết định này, ta hận lắm.

Về đến nhà, ta lại vùi đầu vào dế xem có gì giải tỏa nỗi buồn. Thấy ngay một bài chia sẻ của anh bạn mới quen tên là Cường. Trời đất ạ, toàn quen những kẻ Dương Cường Công Dũng ... mà chính mình thì nhũn như bùn lầy. Bài chia sẻ tình cờ nói về cuộc hội ngộ kỳ cùng của "Xuân Tóc Đỏ" và đệ tử khờ dại nhiều đời nhiều kiếp của hắn ở một chỗ khỉ ho cò gáy nào đó. Mà "Xuân Tóc Đỏ" gọi mãi, gọi mãi kẻ đó mới mò tới được. Đọc xong, ta thấy bứt dứt khó chịu quá đỗi. Không biết có phải là vì ân hận đã thối chí bỏ việc làm tạp vụ ở quán ốc ven hồ.. hay là tức giận chính mình vì không giữ được lời nguyện trường chay... hay là vì bất mãn gì đó rất mơ hồ khó tả. Ta cứ cấu chân bứt tay, vò quần bứt áo mãi. Rồi không thể hiểu nổi sự bứt rứt ấy tại sao cứ dâng lên ngùn ngụt, như đứa trẻ không đạt được điều gì nó mong. Liền khóc. Ta quằn quại dãy dụa một đống phủ phục tại chỗ mà khóc. Mà ấm ức cùng tự hận. TỰ HẬN là cái từ chính xác nhất để miêu tả cảm xúc lúc bấy giờ. Đã qua rất lâu rồi mà giờ vẫn nhớ rõ. Lúc ấy ta không hiểu tại sao, chỉ nghĩ là vì mình đã thối chí, bỏ việc ở quán ốc. Mình là kẻ vô dụng, vô dụng đối với chính mình. Vô dụng vì không thể dũng mãnh, cường công, kiên định với mọi quyết chí nơi mình. Giận chính mình như một con ốc yếu ớt hèn nhát. Muốn bò ra khỏi vỏ nhưng lại sợ hãi một điều gì mà lại chui vào. Ta không tự tin một chút nào! ...

A Đù: Thế là tốt! Tự tin làm bất cứ một việc gì cũng đều là vô ích, chỉ cho đến khi nào ngươi hoàn toàn tỉnh thức, hoàn toàn giác ngộ về chính ngươi.

A Đường: ... Ta bị bệnh ...

A Đù: Bệnh gì cũng có thể chữa khỏi. Như Ram Gopal đệ tử của Xuân Tóc Đỏ nói đó!

A Đường: Bệnh của ta không bao giờ khỏi được hết, cứ chữa nó lại bệnh, lại chữa lại bệnh.

A Đù: Bệnh hồng trần thì ta biết rồi. Ai cũng vậy, ai cũng có mà. Không có gì đặc biệt đâu mà suy diễn nhiều.

A Đường: Không! Bệnh của ta giống bệnh của Duy Ma Cật cơ ...

A Đù: Ma Cật với Ma Sơ thì cũng vậy. Chỉ là vẫn chưa vô úy, vô biên, nên mới còn bệnh tật khổ não.

A Đường: Vậy làm sao để vô úy, vô biên?

A Đù: Ngươi tự nghĩ đi. Hỏi ta ta biết hỏi ai?

A Đường: Nếu ngươi bị đù lâu quá, như Ngộ Không bị đè dưới Ngũ Hành Sơn ấy. Thì ngươi làm gì trong lúc ấy để vô úy vô biên?

A Đù: Thì quán tâm không phải là đù. Tâm này vốn vô biên. Ngũ Hành Sơn (Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ) hay Ngũ Ấm Ma (Sắc - Thọ - Tưởng - Hành - Thức) ... thảy đều không phải là ta.

A Đường: Thế ta là gì?

A Đù: Ta là tất cả và vượt qua tất cả!

A Đường: ... Ta thấy Ngài bí ẩn quá. Ẩn quá thì làm sao, biết đàng nào mà vươn tới, mà nỗ lực?

A Đù: Như những khúc nhạc. Ẩn hay hiện là do tai ngươi có nghe được không, loa có chất lượng hay không, có thẻ nhớ để cắm vào bật liên tục hay không. Có không gian yên lặng, tĩnh tại để nghe được rõ không. Ngài cũng như những khúc nhạc. Khi không nghe thấy thì cho là ẩn. Khi nghe thấy thì biết là hiện.

A Đường: ...

A Đù: Nhạc chỉ là một phương pháp trong hàng ngàn phương pháp để biết Ngài. Có những người biết Ngài qua phương trình toán học, hóa học, vật lý học, thiên văn học, công nghệ thông tin học, thí nghiệm học, bác sĩ học, nông dân học, đau khổ học ... Ngươi nghe nhạc là dễ dàng nhất rồi.

A Đường: ...

" Một hành tinh mịt mù lửa khói,
Tinh thể hình thành, sinh sản tế bào,
Đến loài sứa và loài bò sát,
Và con người ở hang động buổi sơ khai;
Rồi ý thức luật công bằng và mỹ lệ,
Họ không còn bận bịu với đeo đai –
Có người gọi đó là Tiến hóa,
Cũng có người gọi là Thượng Đế Chí Tôn.

Như triều sóng trên bờ biển hình cong vút
Trăng thượng tuần trăng khuyết trăng lưỡi liềm,
Niềm mong ước tuôn tràn trong tâm khảm
Mãi trào dâng và cứ mãi trào dâng:
Từ đại dương bao la, huyền bí
Bờ cát tinh khôi chưa một vết chân –
Có người gọi đó là Niềm khao khát,
Cũng có người gọi là Thượng Đế Chí Tôn.

Trong giá rét người lính canh làm nhiệm vụ,
Người mẹ hiền chịu đói khát vì con,
Socrates uống ly độc cần, điềm tĩnh,
Và Jesus trên thánh giá, bình an
Muôn triệu người không tên và khiêm tốn,
Lê bước trên đường chân chánh, gian nan
Có người gọi đó là Dâng hiến,
Cũng có người gọi là Thượng Đế Chí Tôn.

(William Herbert Carruth.)

Thập giá hình và Thập tự giá của Đức Christ có nguồn gốc hết sức xa xưa. Cả hai đều tượng trưng cho sự mãi mãi hy sinh của Thượng Đế khi Ngài hòa mình vào phương diện hình thể của thiên nhiên. Bằng cách này, Ngài trở thành Đấng Thượng Đế hằng hữu nội tại trong tâm vạn vật và đồng thời cũng là Đấng Thượng Đế siêu việt trên vạn vật.

Thượng Đế bị gắn chặt vào thập tự giá của hình thể vật chất. Nhờ thế mà rốt cuộc Thiên giới mới có thể xuất hiện ở Thế gian. Điều này có hàm ý tinh thần hóa vật chất và hình thể, nâng cao vật chất lên cõi trời, và giải thoát Thượng Đế khỏi thập giá hình của vũ trụ. Thi sĩ Joseph Plunkett diễn tả điều này thật hay trong những vần thơ dưới đây:

“Tôi thấy máu huyết Ngài trên những đóa hoa hồng
Trong các vì sao, ánh mắt Ngài chói rạng,
Giữa băng tuyết vạn niên, thân xác Ngài rực sáng,
Lệ Ngài rơi xuống từ mấy tầng không.
Tôi thấy Ngài lộ diện trong mọi đóa hoa,
Tiếng của Ngài là sấm rền, và chim ca lãnh lót,
Hang động thâm u, quyền năng Ngài cao tột.
Đá núi chênh vênh in bút tự của Ngài.
Bước chân Ngài trên bao quãng đường dài
Biển rộng triều dâng theo nhịp tim Ngài thánh thiện,
Vòng gai nhọn Ngài bện thành vương miện
Mọi thân cây là thập tự giá của Ngài.

Trên nhân hồn của mỗi người có Chân hồn ngự trị,
Là linh hồn uy mãnh nhưng vẫn thuộc về ta!
Có âm thanh bao gồm tiếng nói của toàn nhân loại,
Là suối nguồn của muôn vạn bài ca:
Ta sống trong Chân hồn, Chân hồn ở trong ta,
Với thọ mạng vô cùng qua vạn kỷ;
Khi nhân hồn chết trong thánh thiện và hoàn mỹ
Sẽ nhận sự sống thiêng liêng vĩnh cửu trường tồn.”

(Richard Watson Dixson)


A Đù: Sống theo ý Thiên Chúa! Vậy có nghĩa là gì? Là tất cả đều được vận hành THEO THIÊN Ý! Và như vậy, hãy LÀM - MỘT CÁCH QUYẾT LIỆT, DỨT KHOÁT, điều mà từ sâu thẳm bên trong NHẬN ĐỊNH, đó là điều THUẬN VỚI Ý MUỐN CỦA THƯỢNG ĐẾ!

A Đường: Ngươi có biết không? Ta luôn mang một mặc cảm "phản bội" gì đó rất sâu sa. Như là, ta được sinh ra từ phàm tục, từ thảy thảy hồng trần tục sự. Ta lại muốn phản bội tất thảy để làm một cái sự gì đó ngược với phàm tục. Ta đã kết hôn với đời trần. Trần đời cung cấp cho ta đủ mọi sự, từ quả trứng gà đến mớ rau ngon. Từ cái vung nồi đến cái nắp lọ, từ cái que thử đến cái hình người ... Tất thảy thảy mọi phép thử đều đến từ Hồng Trần. Vậy mà xong rồi thì, ta lại muốn phải bội, vứt hết, bỏ lại tất thảy thảy hồng trần đằng sau lưng, để chạy tới Thiêng Liêng gì đọ? Như cái ông "Qua" Nguyên Vũ gì đó... bỏ vợ con mà tuyên bố đình đình đám đám cho thiên hạ cười ruồi!

A Đù: Việc của người ta ngươi chúi mũi vào làm gì? Mỗi người mỗi con đường đạt ngộ. Hết thảy mọi sự "phản bội" trên đời này đều như gà con "phản bội" vỏ trứng. Nó phải nở, phải đạp vỏ trứng mà tự chui ra. Cái từ "phản bội" khi ấy có thể hiểu khác đi, theo nghĩa rộng hơn rất nhiều.

A Đường: Kiến giải rất hay! Ta xin ghi nhớ.

A Đù: Nhớ cái đầu ngươi. Không cần nhớ. Mọi sự nhớ đều chỉ là những cái hình săm cố hữu, chất chồng lên nhau vậy còn chưa đủ hay sao?

A Đường: Đù! Cái gì ngươi cũng chê được.

A Đù: Đại Toàn Thiện mà ...

A Đường: Đừng động vào nỗi đau của ta nữa. Mối tình đầu lâu xương chéo!

A Đù: Phải động, phải chạm vào thì mới chữa được. Ngốc ạ. Cứ để đó nó mốc lên, thối lên... Không thông được tâm bệnh thì không bao giờ khỏi được.

A Đường: Giá mà ta có thể phanh ngực ra cho ngươi xem quả tim này to nhỏ thế nào ...

A Đù: Ngươi cứ hùng hùng hổ hổ vậy nhưng tâm ngươi thỏ đế, ta biết rồi.

A Đường: Còn ngươi, cứ đù đà đù đờ như vậy nhưng ...

Chẳng biết dùng từ gì để nói nữa vào lúc này, A Đường lại mở bức vách kiếm tìm một tệp sách bất kì đã lưu. Để copy cái roẹt cho chuyện lồng trong chuyện, chương lồng trong chương, cho lê thê thần tiên huyền hồ mộng. Hắn lại cảm khái về những người mù, cũng như vậy, hắn mù mờ mò mẫm miên tình đời ...


Mật Khải (The Prophet)
- Kahlil Gibran –

Chương 1: THUYỀN ĐẾN
Đạo sư Almustafa trong khi đứng trên bờ biển ngoài thành Orphalese để chờ thuyền đến đón về quê, ông nhìn lại mảnh đất thân yêu nơi ông đã trải qua 12 năm ấp ủ chân lý trong cô đơn trên đỉnh núi cao nhất không xa ngoại thành …

Ông thì thầm tự nhủ:
Đây chẳng phải là bộ y trang ta giũ bỏ hôm nay
Mà chính là thịt da tự tay ta lột xẻ.
Cũng chẳng phải một tư duy ta gởi lại
Nhưng là trái tim đã dịu ngọt bởi khát khao.

Phải chăng phút chia ly cũng là giây hội ngộ !
Phải chăng hoàng hôn ta
Cũng chẳng khác bình minh !
Ta sẽ hiến gì cho những cuộc đời dang dở ?
Sẽ hiến dâng những cây cành
Trĩu quả ngọt trong tim.

Khát vọng ta sẽ như suối nguồn bùng vỡ
Để rót tràn khoảng trống kiếp nhân sinh.
Trong tay Đấng Toàn Năng
Ta chỉ là cây đàn nhỏ bé
Là ống sáo đơn sơ mang hơi thở của Ngài.
Là kẻ kiếm tìm trong chiều sâu lặng lẽ
Ta sẽ chọn kho báu nào
Để phân phát an nhiên?
Nếu hôm nay là vụ mùa đích thực
Sao ta chẳng nhớ ra thủa gieo hạt đầu tiên!

Nếu phút này phải dâng đèn đốt lửa
Ngọn lửa kia nào phải lửa riêng ta
Trong bóng đêm ta sẽ nâng cây đèn rỗng
Để người lính canh châm lửa rót dầu.

Than ôi !
Những gì có thể thốt lên sao ít ỏi !
Để lại trong ta còn một biển vô ngôn !
Ôi năng lực ngữ từ sao kém cỏi
Chẳng thể nào tát cạn một biển hồn !

Than ôi !
Một lần thở nữa thôi trong tĩnh lặng
Một lần nhìn lưu luyến chốn xa sau
Rồi ta sẽ cùng lênh đênh chìm nổi
Như một viễn dương nhân
giữa những viễn dương nhân.

Hỡi biển mẹ bao la hằng thao thức
Nguồn tự do duy nhất của suối sông !
Lượn khúc chót, dòng này còn tuôn chảy
Còn thì thào lặng lẽ một lần thôi.
Rồi ta sẽ trong vòng tay biển mẹ
Giọt vô biên về giữa giọt vô biên.

(Hết chương 1)

Khi đạo sư nói xong những lời ấy, ông đi vào thành. Toàn dân thành Orphalese, kể cả những thầy tế lễ và những nhà tiên tri, trong đó có nữ tiên tri Almitra là người đầu tiên đã tìm đến và tin tưởng ông khi ông mới đặt chân đến thành này, kéo đến tụ tập quanh ông. Họ van nài ông chớ vội ra đi bởi niềm tin và tình cảm họ dành cho ông.  Họ mong muốn ông trao truyền lại những chân lý mà bấy lâu ông hằng ấp ủ … Almitra là người đầu tiên xin nghe chân lý về tình yêu.

Chương 2: TÌNH YÊU

Khi tình yêu vẫy gọi
Hãy tiến bước theo chàng
Dù đường tình hiểm trở
Đầy dẫy những gian nan.

Khi cánh tình ấp ủ
Hãy ngoan ngoãn thuận nhu
Dù lưỡi gươm trong cánh
Hằn vết chém thiên thu.

Khi tình yêu lên tiếng
Hãy tin, chớ nghi ngờ
Dù lời tình xáo động
Làm giông bão vườn mơ.

Tình dâng ta vương miện
Rồi tình đóng đinh ta
Tình nuôi cây ta lớn
Rồi chặt tỉa cành ta.

Tình vươn cao trong nắng
Mơn man đỉnh lá xanh
Tình luồn sâu trong đất
Nhỗ bật gốc rễ cành.

Tình gom ta trong tay
Đập vỏ rồi nghiền xay
Nhồi nặn trên ngọn lửa
Thăng hoa kiếp đọa đày.

Tình bắt ta đoạn trường
Cho tim ta bừng sáng
Biết tình sâu vô hạn
Buộc ta vào nhân gian.

Ai sợ tình sầu khổ
Hãy ra khỏi sân đời
Để cười không trọn tiếng
Để khóc không lệ rơi
Giữa mùa đông miên viễn.

Tình chẳng cho chẳng nhận
Chẳng chiếm đoạt riêng ai
Cũng chẳng ai chiếm được
Bởi tình là KHÔNG HAI.

Khi yêu không nên nói:
Người là của riêng tôi.
Nhưng tốt hơn hãy nói:
Tim tôi thuộc về người.

Chớ tưởng mình đủ sức
Tự tay khơi nguồn tình
Trừ phi tình cao hứng
Đã dọn sẵn bình minh.

Tình chẳng khát khao gì
Chỉ tự lo hoàn thiện
nhưng ai yêu cần biết
Hãy khao khát như sau:

Được tan thành dòng suối
Cất tiếng hát ru đêm
Được nếm mùi đau xót
Của bao nỗi dịu êm.

Được khắc sâu vết chém
Bởi thấu hiểu tình trường
Được hy sinh tự nguyện
Bằng hoan lạc yêu thương.

Mỗi bình minh thức giấc
Nghe lòng chắp cánh bay
Xin tạ ơn trời đất
Được yêu thêm một ngày.

Mỗi buổi trưa vắng lặng
Được buông xả thân tâm
Trong bình yên suy tưởng
Những ngây ngất tình thâm.

Những khi chiều tạnh nắng
Về bên bếp lửa hồng
Lòng biết ơn sâu nặng
Tình cho không biếu không.

Mỗi đêm vào giấc ngủ
Mang theo lời nguyện cầu
Cho người mình yêu dấu
Trên môi khúc tình sâu.

(Hết Chương 2)