Wednesday, December 28, 2022

Cổ tích đực rựa

 Ngày xưa, một nhà nọ có hai anh em cha mẹ mất sớm để lại một tư cơ cũng vào hạng khá trong vùng. Từ trước hai người vẫn ở chung với nhau. Ít lâu sau người anh lấy vợ. Anh bảo em:

– Bây giờ đã đến lúc phải chia gia tài ra để cho mày học ăn học làm với người ta.

Đến ngày chia của, anh chìa một tờ giấy, bảo em:

– Của cải của cha mẹ để lại chỉ có ba giống: Giống đực, giống cái và giống con. Mày bé bỏng nên tao nhường cho mày tất cả những đồ đạc giống đực, còn giống cái và giống con thì phần tao. Nghe chưa, nếu mày bằng lòng thì ký vào đây!

Em ngây thơ tưởng là anh thương thật nên không nghi ngờ gì cả, ký ngay vào giấy. Cuộc chia của bắt đầu. Nhưng đồ vật nào mà chẳng là “cái” hay “con”. Người anh đếm mãi: “Cái nhà này: của tao, con trâu này: của tao, cái chum này: của tao, cái cày, cái bừa này: của tao…”. Suốt từ sáng đến chiều những của chìm của nổi chia đã sắp vơi mà vẫn chưa có một vật nào thuộc giống đực cả. Mãi đến lúc trời đã tối, người em tức mình mới chụp lấy một cây dao rựa dựng ở bờ hè mà nói rằng:

– Đây là “đực rựa” [1] thuộc về phần tôi!

Nói xong, vác rựa lùi lũi đi ra giữa lúc người anh cười ha hả vì thấy mưu kế của mình đã đạt.

Từ đấy, người em ngày ngày vác rựa vào rừng chặt củi làm kế sinh nhai. Vì không có nhà ở nên anh ta phải ăn nhờ ở đậu hết nhà người bà con này qua nhà người quen khác. Có hôm phải nằm đình nằm chùa, ngủ cầu ngủ quán như kẻ cầu bơ cầu bất. Nhưng anh vẫn chăm chỉ làm ăn để khỏi phải cái nhục ngửa tay ăn xin.

Một hôm trăng non vừa mọc, anh đang ngủ say tỉnh dậy tưởng trời đã sáng, bèn vớ lấy rựa đi miết lên rừng. Đến cửa rừng mới hay là mình nhầm: trời vẫn còn khuya. Bèn nằm duỗi chân dưới một gốc cây cổ thụ đợi sáng, nhưng bỗng dưng ngủ quên lúc nào không hay. Anh chàng không ngờ rằng nơi đây là chốn chơi đùa của một bầy khỉ. Hôm ấy chúng cũng kéo nhau đến đấy, nhưng khi thấy dưới gốc cây có một người lạ nằm thẳng đuỗn thì đồ là một thây người; chúng bèn xúm nhau khiêng đi chôn để lấy chỗ nhảy nhót. Đang đi, anh chàng bỗng tỉnh giấc, toan la lên, nhưng thấy chuyện hay hay, nên cứ nằm im để xem bọn khỉ khiêng mình đi đến đâu. Hồi lâu, anh nghe bầy khỉ dừng lại nói với nhau:

– Hà rầm hà rạc, chôn vào hố bạc, không chôn hố vàng!

Nhưng trong bầy khỉ có một con khỉ đột đứng đầu, bảo chúng:

– Hà rầm hà rạc, chôn vào hố vàng, không chôn hố bạc!



Thế là bầy khỉ lại tiếp tục khiêng anh tới một chỗ khác xa hơn. Đến nơi, chúng đặt anh xuống rồi kéo nhau trở về gốc cổ thụ. Anh chàng nhìn thấy xung quanh mình có những cục vàng sáng chói thì mừng lắm, bèn chờ cho chúng đi khuất mới đứng dậy nhặt đầy túi mang về. Từ khi trở nên giàu có lớn, anh chàng hết làm nhà cửa lại tậu ruộng vườn, nuôi trâu bò, cuộc đời muôn phần tươi hơn trước.

Câu chuyện về người tiều phu lên núi bắt được vàng từ đó lan đi khắp nơi. Người anh nghe nói nửa tin nửa ngờ. Một hôm vào ngày giỗ cha, hắn thấy em mình tìm đến mời về nhà ăn giỗ. Hắn vội vã nhận lời. Bước vào nhà em, người anh không giấu được kinh ngạc.

– Từ dạo ấy đến giờ chú mày làm thế nào mà phát tài dữ vậy?

Em vui vẻ kể tỉ mỉ cho anh nghe câu chuyện lên rừng gặp khỉ, và từ hố bạc tình cờ được chúng chuyển sang hố vàng. Nghe đoạn, người anh mượn ngay cây rựa, và cũng chờ một đêm trăng non, một mình vác rựa lên cửa rừng. Hắn ta cũng giả vờ duỗi chân nằm dưới gốc cây cổ thụ nọ. Lát sau quả có một bầy khỉ đến nhảy nhót xung quanh gốc cây, và khi thấy có người lạ nằm choán chỗ chúng vui đùa, chúng cũng xúm lại khiêng đi chôn, vì chúng tưởng rằng đó là một cái thây người chết. Nhưng đến lúc nghe bầy khỉ nói: -“Hà rầm hà rạc, chôn vào hố bạc không chôn hố vàng!” thì hắn vội ngẩng đầu cãi lại:

– Chôn vào hố vàng chứ! Chôn vào hố vàng chứ!

Bầy khỉ không ngờ cái thây người vẫn còn sống, cuống cuồng quẳng hắn xuống rồi bỏ chạy. Hắn bị lăn xuống sườn núi, đầu va vào đá, vỡ sọ chết.

Đại Đức “đực rựa” A Nan

 https://phatgiao.org.vn/amp/cuoc-doi-thanh-tang-a-nan-a-sau-khi-uc-phat-nhap-niet-ban-ii-d38292.html

Cuộc đời Thánh tăng A Nan Ða sau khi Ðức Phật nhập Niết bàn (II)

Qua phần phụ hội, các Sa môn nghiêm tinh đã phàn nàn rằng: Thứ nhất có một khuyết điểm liên quan đến Tạng Luật. A Nan Ða không hỏi Phật điều luật nào là điều luật cần thiết. Khuyết điểm ấy bây giờ A Nan Ða nên sám hối! Và thứ hai, A Nan Ða, lúc Phật còn tại tại tiền, thường dậm lên y Phật, căng ra để vá.

A Nan Ða vui vẻ trả lời rằng: "Khuyết điểm thứ nhất, khi đức Thế Tôn lâm trọng bịnh, bần đạo tâm tư quá bối rối, nên quên mất. Thứ hai, lỗi lầm đứng lên y Phật vì sơ ý muốn tiện lợi để vá, chứ không vì bất kính đối với đức Phật. Tuy nhiên, nếu như chư đạo huynh đã nhắc nhở, thì bần Tăng xin sám hối.”

Rồi liên quan đến cách đối xử của A Nan Ða cuối cuộc lễ Hỏa táng của đức Phật, các vị Sa môn nghiêm túc nói tiếp: Thứ ba A Nan Ða khi ấy đã dành ưu tiên cho phái nữ đến lễ bái Xá Lợi Phật trước cả hàng cao đồ Phật giáo.

A Nan Ða liền vui vẻ trả lời: "Vì lúc ấy bần Tăng chưa đắc quả Giải thoát, và đối với một người còn phàm tính, khi những tín nữ muốn được chiêm bái Phật mà bắt họ chờ lâu, là một điều tội nghiệp. Giờ đây bần Tăng là bậc Giác ngộ vậy xin sẵn sàng nhận lỗi.”

Sau cùng, một số Thánh Tăng cũng không quên nhắc cho A Nan Ða nhớ rõ: hành động không thỉnh Phật “Khoan Nhập Niết bàn” của ông là một lỗi lầm vô cùng quan trọng.

A Nan Ða tự biết lỗi, nên thành thật tỏ bày rằng: "Chính Ma vương (Mara) đã ám ảnh ông, khiến cho tâm trí tăm tối. Chứ trên thực tế ông mới là người đệ tử sợ Phật sớm nhập Niết bàn nhiều hơn ai hết.”

Cử chỉ của A Nan Ða đối với những người phê bình ấy, quả thật đáng kính trọng. Ông đã phục tùng trước những sự phán quyết của chư Thánh Tăng, mà không một mảy may bất mãn. Dù trong thâm tâm, ông tự biết rằng: Những lỗi lầm do vô tình phạm phải thì luôn luôn đáng tha thứ.

Sau đó, A Nan Ða thuật tiếp, đến một di chúc khác mà đức Phật đã dạy, ngay trước khi Ngài nhập Niết bàn. Di huấn này có liên quan đến thẩm quyền của Giáo hội về việc trừng phạt Tỳ kheo Channa, một người đã bất tuân nghiêm giáo của đức Bổn sư.

Nghe A Nan Ða trình bày xong, đại hội đồng Thánh Tăng liền yêu cầu A Nan Ða đích thân áp chuyển Di giáo lệnh ấy đến Channa. A Nan Ða thực thà nói rằng "Ông không thể một mình làm được công tác này, vì Channa là một người cộc cằn và vô kỷ luật!”

Ðại hội đồng thanh ủy nhiệm cho A Nan Ða dẫn theo một số Tỳ kheo để áp đặt giáo lệnh Phật đến Tỳ kheo Channa.

Thế là A Nan Ða vâng lời, dẫn một đoàn Tỳ kheo tăng, lên đường đi Kosambi, nơi Channa ẩn ngụ, để công bố giáo lệnh cuối cùng của đức Phật. Giáo lệnh ấy ấn định rằng: "Nếu Tỳ kheo Channa tiếp tục chống lại Giáo hội, thì ông sẽ bị khai trừ ra khỏi Phật giáo.” (Lời thêm của dịch giả: Theo nguyên văn trong kinh Ðại Niết bàn, thì Tỳ kheo bất tuân Phật huấn sẽ bị "khai tử" khỏi Giáo hội. Tức là xem như đương sự đã "chết" rồi, không còn kể trên cộng đồng Tăng chúng nữa).

Sự trừng phạt này, đức Phật lúc sinh tiền cũng đã từng giải rõ: Ngài lấy thí dụ như một người tập ngựa kiên nhẫn và đầy kinh nghiệm, nhưng không huấn luyện nổi một con ngựa. Cuối cùng người tập ngựa phải đem nó bán vào lò sát sinh, vì giữ nó không lợi ích chi cả. Một con ngựa mà không chịu kéo xe, không biết kéo cày, không muốn mang bất cứ cái gì trên lưng hết, thì chỉ có lò sát sinh chờ đợi nó. Tương tự như thế: Nếu một bậc xuất gia mà không chịu thuần thục trong thiện pháp ví chẳng khác nào họ tự "khai tử" gạch tên họ, trong danh sách Tăng già Giáo hội.

Trường hợp một Tỳ kheo mất dạy như thế cứ ở lỳ trong cộng đồng Tăng lữ thì Phật ra lệnh cho chư đệ tử không được nói chuyện, không được tiếp xúc, không được khuyên nhủ hay dạy dỗ chi cả. Tất cả đồng tẩy chay kẻ cố ý sống vô kỷ luật ấy.

Channa nghe A Nan Ða thuật xong Di giáo của đức Phật thì kinh cảm và hoảng sợ vô cùng, ông kinh sợ đến phải ngất xỉu. Lúc ông tỉnh dậy, một niềm hổ thẹn sâu xa lại dày vò tâm tư ông. Nhất là ông xấu hổ vì sự trừng phạt ấy đã do chính đức Phật đã giao lại cho Giáo hội thi hành, trước khi Ngài Viên tịch.

Và cũng vì sự hổ thẹn sâu xa ấy, mà ông càng lúc càng thức tỉnh, đồng thời quyết lòng phục thiện. Người ta không ngờ sự cứng đầu của một Channa ương ngạnh, trước lời di huấn trừng phạt của đức Phật, đã nhường chỗ cho một tinh thần phục thiện, mạnh mẽ đến mức, kể từ đó ông chỉ biết chăm lo tu hành, để chẳng bao lâu, ông đã đắc quả A la hán.

Bởi thế sự trừng phạt cuối cùng của đức Phật, tự nó đã chứng tỏ rằng: Vào phút chót, trước khi nhập Niết bàn, đức Phật đã để lại di huấn tối hậu, có thể chuyển hóa nổi một âm hồn si mê, tăm tối, mà ít ai ngờ được. Từ đó, trong Phật giáo, chỉ có một Channa Thánh Tăng, rất thanh tịnh, lúc nào cũng sống với sự an lạc, chứ không còn một Tỳ kheo tên Channa ngoan cố nữa!


Sau khi quả Thánh đã đạt rồi, một hôm Sa môn Channa đến yêu cầu A Nan Ða triệu tập hội đồng Giáo hội để ông sám hối và xin A Nan Ða hủy bỏ lệnh trừng phạt. A Nan Ða liền thân thiện trả lời rằng: "Tất cả Tăng chúng đều hay tin sư đệ đắc quả Bất lai rồi. Sư đệ chỉ cần đến lễ bái trước Xá Lợi của Bổn sư, hầu tăng lên phúc đức. Có lệnh trừng phạt tự nó đã hết hiệu lực kể từ khi hiền đệ chứng quả Giải thoát.”

Và câu chuyện của Channa đã kết thúc một cách toàn thiện như thế.

Kế đến, là thời gian hậu Phật bắt đầu: Các thứ bậc lãnh đạo trong Giáo hội Tăng già tự nhiên được hình thành như sau:

- Trưởng lão Ðại Ca Diếp (Mahà Kassapa) là vị thượng thủ cao nhất, lớn tuổi nhất và đầy đức hạnh nhất được tín nhiệm vào vai trò lãnh đạo toàn thể Giáo hội. Chúng ta có thể gọi Ngài là vị Tăng thống đầu tiên trong Phật giáo. Còn đức Phật là bậc Giáo chủ, sáng lập ra Phật giáo. Xin chớ lầm lẫn.

Bởi thế những kẻ thiện tâm sau này, khi muốn nhập đạo Phật giáo, họ sẽ xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng (đại diện là Giáo hội), chứ họ không quy y với vị Tăng thống. Chính Ðại Ca Diếp khi nhận lãnh sự tối cao đã xác nhận điều đó.

Theo lời Phật dạy thì Trưởng lão Ðại Ca Diếp có đủ mười chi để đóng vai trò một bậc lãnh đạo cao cả. Mười chi ấy là:

1. Ðức hạnh giữ đúng Tạng Luật và hoàn toàn trong hành vi cử chỉ.

2. Học rộng và nhớ nhiều.

3. Ðầy đủ pháp tri túc.

4. Vững chắc và thuần phục trong bốn bậc Thiền.

5. Nhiều khả năng phi thường đối với cõi người và cõi trời.

6. Ðắc Thiên nhĩ thông (nghe xa vạn dặm)

7. Ðắc Tha Tâm thông (biết chuyện kẻ khác đang suy nghĩ)

8. Ðắc Túc mạng thông (biết quá khứ, vị lai)

9. Ðắc Thiên nhãn thông (thấy xa vạn dặm)

10. Tâm không còn tham, sân, si, phiền não nữa. Trưởng lão Ðại Ca Diếp quả là biểu tượng xứng đáng của một đại tông đồ hộ pháp vậy.



Sao Thổ Intense - Cha

https://youtu.be/VqrMOf2fMtk


https://youtu.be/EIf9U9QxE1w


1. Không dám cho mình xả hơi


Nhà 12 là nhà của sự nghỉ ngơi, thoát li đời thực để tĩnh dưỡng, trong khi sao Thổ là hành tinh của cấm đoán và trách nhiệm. Khi nằm ở nhà 12, sao Thổ sẽ gây trở ngại, khó dễ mỗi khi chủ nhân của nó có nhu cầu nghỉ ngơi, trốn tránh. Mỗi khi họ chỉ muốn vứt mẹ mọi lo toan đi để trốn vào xó nào đó cho yên thân thì lập tức có tiếng vọng trong đầu “Mày không thể vô TRÁCH NHIỆM như vậy được, mày không thấy TỘI LỖI à, cứ lười biếng thế đi rồi mày sẽ phải TRẢ GIÁ”. 


Nhà 12 chỉ muốn ngoảnh mặt khỏi thực tế nghiệt ngã một chút cho dễ thở, nhưng sao Thổ lại luôn dúi đầu nó, bắt ép phải nhìn vào sự thật trần trụi. Kết quả là những người này ít khi nào cho phép mình nghỉ ngơi, quên đi những ám ảnh về trách nhiệm dù chỉ chốc lát. Mặt tốt của điều này là họ chắc chắn không bao giờ để mình rơi vào cảnh vô tích sự.


2. Không cho mình quyền cô độc


Một trong các từ khóa quan trọng của nhà 12 là sự cô độc, hay “tự cô lập” (seclusion, isolation). Sự cô lập này thực tế là một trải nghiệm cần thiết và lành mạnh (đặc biệt với những người hướng nội). Chúng ta cần những khoảng thời gian hoàn toàn một mình để lắng nghe bản thân, phát hiện và chữa lành các vết thương của mình, kết nối với tiềm thức và những giấc mơ của mình, v.v.. Đi sâu hơn một chút, nhà 12, cũng như nhà 8, đều đề cập đến sự kết thúc và cái chết. 


Những người có sao Thổ trong nhà 12 dù rất cần sự cô độc, nhưng tự họ lại thường không cho phép mình quyền cô độc. Khi họ cảm thấy cần một mình tách khỏi xã hội, họ lại tự thấy nhu cầu đó là sai trái, kém cỏi (Tiểu Thừa @@)… Tệ hơn là xu hướng này dần dần có thể khiến họ luôn căng người ra cố vui vẻ, hòa đồng với tất cả mọi người, cố sao cho mình luôn “có ích” mà bỏ qua những mệt mỏi, tổn bên trong mình, mất kết nối với tiềm thức, những mơ ước và trí tưởng tượng của mình.


3. Những nỗi sợ vô hình


Sao Thổ thường mang đến lo âu, căng thẳng, và nhà 12 là của những điều vô hình, bí mật, kẻ thù giấu mặt… nhìn chung là những thứ mình không nhìn thấy, mà thậm chí còn không chắc là chúng có thật không. Vị trí này bởi thế đôi khi mang lại cho chủ nhân những nỗi lo sợ phi lí mơ hồ.


4. Gánh nỗi đau của người khác


Sao Thổ là hành tinh của trách nhiệm, sự tự vấn và tạo ra cảm giác TỘI LỖI (guilt – vì sao Thổ luôn bắt chủ nhân tự nhìn nhận một cách khắt khe, xoáy vào những sai trái, thiếu sót của mình), còn nhà 12 là nhà của sự đồng cảm, sẻ chia, hy sinh quên mình vì người khác. Những người có sao Thổ trong nhà 12, bởi thế, dễ cảm thấy nặng nề, trầm uất bởi những tổn thương, nỗi đau của người khác. Họ có một lòng cảm thông (nhà 12) với những khốn khó (sao Thổ) của người khác, đến mức đôi khi cảm thấy mình cũng có một phần lỗi trong nỗi đau của người ta. Họ khá dễ bị lây lan cảm xúc tiêu cực từ người khác.

Tuy nhiên ở một mặt khác, vì bất cứ nơi đâu sao Thổ hiện diện trong bản đồ sao chính là nơi thôi thúc chúng ta phải lao động, phải tạo dựng một điều gì đó có ích cho đời để củng cố lòng tin vào giá trị của mình, nên sao Thổ ở nhà 12 cảm thấy mình có trách nhiệm giúp đỡ, chỉnh đốn, định hướng cho những người yếu thế trong xã hội. Thực tế là họ có một tài năng trong việc nhìn nhận được điểm mạnh của người khác (còn hơn của mình), cũng như cách để sử dụng điểm mạnh đó cho hữu ích. Bởi vậy những người có sao Thổ nhà 12 có thể tìm thấy thành công và sự thỏa mãn trong các công việc nhân đạo, bệnh viện, tư vấn… Sự nghiệp họ lựa chọn thường mang tính kín đáo, bí mật, “sau cánh gà”.


Bạn có thể nhận ra một cái paradox ở đây: họ dễ bị ảnh hưởng tệ bởi sự khốn khó của người khác, nhưng lại muốn đi lắng nghe, giúp đỡ người khốn khó!


5. Mất kết nối với phụ huynh (thường là người cha)


Sao Thổ thường gắn với người cha, còn nhà 12 là ốm đau, cái chết, nỗi đau, cách li,… Kết hợp này có thể (có thể thôi) báo hiệu sự “vắng mặt” của một phụ huynh (thường là cha) trong đời chủ nhân của nó. Có thể người cha bỏ đi, hoặc qua đời, hoặc bị bệnh. Nhà 12 cũng nói về nghiện ngập, nên người cha có thể đắm chìm trong nghiện ngập gì đó. Hoặc, sự “vắng mặt” ở đây mang nghĩa bóng: người cha vẫn ở đó, nhưng chủ nhân của kết hợp này không cảm thấy có kết nối với cha, không gần gũi về cảm xúc với cha, không cảm thấy được truyền ảnh hưởng từ cha.


6. Hướng đến sự trưởng thành về tâm hồn


Sao Thổ tham vọng và luôn thôi thúc sự trưởng thành chín chắn, khi nằm ở nhà 12 thì chủ nhân của nó sẽ khó lòng thỏa mãn chỉ với các thành tựu trần tục (tiền bạc, nhà xe) được. Thay vào đó cái làm họ cảm thấy mình trưởng thành là sự phát triển về tâm hồn (bắt đầu trừu tượng khó hiểu). Hề hề đại loại là họ cần cảm giác mình đang ngày càng deep, tâm hồn thì thăng hoa tiến hóa. Con đường để họ đạt điều này chẳng hạn như là sáng tạo nghệ thuật, nghiên cứu tâm linh, v.v… Thực tế thì tâm hồn họ thường cũng già trước tuổi. Từ bé đã hiểu đời hơn hội cùng trang lứa.


7. Tổng kết và lời khuyên


Như các bạn có thể thấy thì vị trí này khá của nợ và nhiều tréo ngoe (nhiều người cho rằng sao Thổ tỏ ra lồi lõm nhất ở các nhà 1,4,5 và 12). Nhưng cũng nhiều nhận định cho thấy đây là kết hợp có tiềm năng phát triển rất lớn. Dù sao thì nhà 12 luôn ẩn chứa tiềm năng vô tận, và sao Thổ thì không đời nào không làm cái gì đó cho ra trò. Lời khuyên quan trọng nhất dành cho những người kết hợp này nằm ở đặc điểm (1) và (2): phải cho mình quyền được thi thoảng nghỉ ngơi và ở một mình. Họ có cái nhìn về cuộc đời đầy sâu sắc, khả năng sáng tạo lớn, nhưng nếu quen tự ngược đãi bản thân thì dễ mất kết nối với chúng, thường xuyên căng thẳng và nhìn đời hằn học. Khi đã giữ nội tâm ổn định thì họ làm điều (4) hay (6) đều dễ.


PS1: Các khó khăn, căng thẳng đến từ sao Thổ là các bài học để con người trưởng thành, và đến khi sao Thổ hồi vị (tầm 30 tuổi), bạn sẽ thấy chúng nhẹ nhàng đi nhiều, vì gian khó đã làm bạn am tường lão luyện rồi.


Tiên sinh có sao Thổ nhà 10. Sư Rừng Gọi cũng có vị trí này.


Sao Thổ ở nhà 10, ngôi nhà của sự nghiệp và sự công nhận của số đông, nơi đây chỉ ra những mong muốn mạnh mẽ trong sự nghiệp hoặc vị thế, đây là những người khát khao đạt được thành tựu trong chuyên môn của mình. Điều này đặc biệt đúng sau khi sao Thổ hồi vị lần thứ nhất, tức sau năm 29 tuổi. Họ có khả năng quản lí và tổ chức với tầm nhìn thấu đáo, luôn mong muốn bản thân là người có tiếng nói và sức nặng. 


Thường đi lên tạo dựng sự nghiệp bằng tính cách nghiêm túc như một người cha. 


Sao thổ trong nhà 10 thích vị trí lãnh đạo hơn cả. Bất kỳ nghề nghiệp nào có địa vị và sức ảnh hưởng lớn sẽ khiến họ hài lòng.


https://luatduonggia.vn/mafia-la-gi-bang-dang-xa-hoi-den-la-gi-ma-ca-the-gioi-khiep-so/