Thursday, February 23, 2023

Động đến

Động đến 


Động đến Phật thì ai cũng mặc định là chẳng có gì hay ngoài Thiền với Xả.


Động đến Chúa thì ai cũng mặc định là chả có gì hay ngoài Cứu và Chuộc. 


Động đến Thiên Sứ Muhammad thì ai cũng mặc định là chả có gì ngoài gái với gú, chém với giết.


Qua nay sờ gáy ông bô Hồi đạo mà thương ghét ghét thương thân phận con người quá đỗi. Không quan tâm sao được.


Làm người với nhau cả, mà muốn sống yên lành nhiều khi cũng khó. Nhất là vùng Trung Đông chả có gì ngoài gió và cát. Để sinh tồn phải ăn cướp, giết chóc nhau là bình thường ... Trẻ chết yểu, thanh niên chết sớm, đời du mục chẳng canh tác trồng chọt được gì, nước còn không có mà uống, phải tranh nhau từng cái giếng.


Đó là khi dầu mỏ chưa lên ngôi. Còn bây giờ khác lắm rồi... 


Nạn Đói hiện thời không còn là vật chất, mà là đói khát một sự Tử Tế, Đạo Đức, Tin Yêu tột cùng trong thiêng liêng vô kỷ.


Khủng hoảng này là khủng hoảng muôn đời. 


https://www.islam-guide.com/vi/ch1-6.htm


Lòng anh em ở đâu thì của cải anh em ở đó. 


Nếu chúng ta coi vật chất, xác thịt, tiền bạc, danh vọng, gái gú, dục tình ... là của cải chúng ta. Thì lòng chúng ta cũng chỉ ở đó mà thôi. Chúng ta không bao giờ chạm tới cái vô kỷ 


Ôi những kẻ chậm hiểu nhanh lầm, biết bao giờ ngừng si đắm mộng mơ “vô thường”?!


- - -


Cuộc đời giản dị của Thiên Sứ Muhammad 

Nếu chúng ta so sánh cuộc sống của Thiên Sứ Muhammad trước và sau khi Ông bắt đầu thực hiện sứ mệnh làm Thiên Sứ, chúng ta có thể kết luận rằng không có lý do nào để cho rằng Thiên Sứ Muhammad  là một Thiên Sứ giả mạo, nhằm tìm kiếm những lợi ích vật chất, sự nổi tiếng, và quyền lực. 

Trước khi thực hiện sứ mệnh làm Thiên Sứ, Thiên Sứ Muhammad sống một cuộc sống sung túc và chẳng phải lo nghĩ về tiền bạc. Là một thương gia thành đạt và có tiếng, Muhammad đã mang về những khoản thu nhập thỏa đáng và sung túc. Sau khi thực hiện sứ mệnh làm Thiên Sứ, và bởi vì sứ mệnh này, cuộc sống của Ông trở nên gian khổ hơn rất nhiều về mặt vật chất. Để làm rõ điều này, chúng ta hãy xem xét xem những câu nói sau đây về cuộc đời Ông:

n  Aa’isha, vợ của Thiên Sứ Muhammad kể lại với một người cháu: “Ôi cháu của ta, chúng ta nhìn thấy ba mặt trăng mới trong hai tháng mà trong nhà của Thiên Sứ không nhóm lửa (để nấu ăn).” Cháu của bà liền hỏi, “Thưa cô, cái gì đã duy trì sự sống của cô?” Bà liền nói, “Có hai đồ vật màu đen, quả chà là và nước, nhưng Thiên Sứ có những người láng giềng Ansar, họ có sữa của những con lạc đà và họ từng chuyển đến cho Thiên Sứ một ít sữa.”1

n  Sahl Ibn Sa’ad, một trong những người bạn của Thiên Sứ Muhammad nói: “Thiên Sứ của Thượng Đế không thấy bánh mì được làm bằng bột ngon kể từ khi Thượng Đế chọn Ông ấy (làm Thiên Sứ), cho đến khi Ông qua đời.”2

n  Aa’isha, vợ của Thiên Sứ Muhammad nói: “Nệm của Thiên Sứ dùng để ngủ được làm bằng da được nhồi bằng sợi cây chà là.”3

n  Amr Ibn Al-Hareth, một trong những người bạn của Thiên Sứ Muhammad nói rằng: "khi Thiên Sứ qua đời , Ông không để lại tiền bạc hay bất cứ thứ gì khác ngoại trừ con la trắng Ông thường hay cưỡi, vũ khí, và một mảnh đất Ông dùng để làm việc từ thiện.4

Thiên Sứ Muhammad đã sống một cuộc sống cơ cực cho đến khi Ông qua đời mặc dù Ông có thể sử dụng ngân khố Islam, phần lớn Bán đảo Ả-rập thuộc về người Islam trước khi Ông qua đời, và người Islam giành chiến thắng sau 18 năm Ông thực hiện sứ mệnh của mình. 

Liệu có phải Thiên Sứ Muhammad đã lợi dụng uy tín của mình để giành địa vị, sự vĩ đại hay quyền lực. Sự ham muốn địa vị và quyền lực thường song hành với ăn ngon, mặc đẹp, ở trong những ngôi nhà sang trọng, có lính gác và những quyền lực miễn phải bàn cãi? Chỉ cần vài cái nhìn khái quát về cuộc đời của Ông dưới đây, ta có thể trả lời cho câu hỏi này.

Bất chấp trọng trách của một Thiên Sứ, một thầy giáo, một chính khách, một quan tòa, Thiên Sứ Muhammad vẫn vắt sữa con dê của mình5 tự may vá quần áo, tự sửa giầy6 giúp làm các công việc trong gia đình7 đến thăm người nghèo khi họ bị ốm.8  Ông cũng từng giúp những người bạn của mình đào một cái mương bằng cách giúp họ chuyển cát đi.9  Cuộc đời của Ông là một hình mẫu đáng ngạc nhiên về sự giản dị và tính khiêm tốn. 

Những người bạn của Thiên Sứ Muhammad rất yêu thương Ông, tôn trọng Ông, và tin tưởng Ông một cách đáng ngạc nhiên. Tuy nhiên, Ông vẫn luôn nhấn mạnh rằng, sự tôn thờ phải dành cho Thượng Đế chứ không phải cá nhân Ông. Anas, một trong những người bạn của Thiên Sứ Muhammad nói rằng không có ai trên đời này được họ yêu quý hơn Thiên Sứ Muhammad, tuy nhiên mỗi lần Ông đến họ không đứng dậy chào Ông bởi vì Ông ghét nhìn thấy họ đứng dậy chào Ông giống như mọi người vẫn thường làm đối với những người vĩ đại.

Một thời gian dài, trước khi có những viễn cảnh về sự thành công đối với Islam, và ở giai đoạn đầu của kỷ nguyên dài và cực khổ với đòn tra tấn và cực hình dành cho Thiên Sứ Muhammad và những người đồng hành, Ông đã nhận được một đề nghị rất thú vị. Một sứ giả của những thủ lĩnh đa thần, Otba, đã đến gặp Ông và nói rằng, “...Nếu Ông muốn tiền, chúng ta sẽ quyên đủ tiền để Ông trở thành người giàu có nhất trong số chúng ta. Còn nếu Ông muốn làm thủ lĩnh, chúng tôi sẽ dựng Ông trở thành thủ lĩnh của chúng tôi và không bao giờ quyết định chuyện gì nếu chưa được phép của Ông. Nếu Ông muốn một vương quốc, chúng tôi sẽ đưa Ông lên làm vua của chúng tôi...”  Tất cả những điều đó chỉ đổi lại đúng một yêu cầu là Thiên Sứ Muhammad ngừng không kêu gọi mọi người theo Islam và chỉ thờ phụng mỗi mình Thượng Đế. Liệu lời đề nghị này có hấp dẫn đối với một người đang theo đuổi những lợi ích về vật chất? Liệu Thiên Sứ Muhammad có lưỡng lự khi lời đề nghị này được đưa ra? Liệu Ông có từ chối nó như một chiến lược mặc cả và để ngỏ cửa để chờ một lời đề nghị hấp dẫn hơn? Dưới đây là câu trả lời của Ông: {Nhân danh Thượng Đế, Đấng rất mực Độ Lượng Đấng rất mực Khoan Dung}, Và Ông ngâm cho Otba nghe những câu thơ trong Kinh Qur'an 41:1-3811  Dưới đây là một số trong những vần thơ đó:

 Việc ban (Kinh Qur'an) xuống là do Đấng rất mực Độ Luợng, Đấng rất mực Khoan Dung. Một kinh sách với các câu được giải thích rất chi tiết, một cuốn Kinh Qur'an bằng tiếng Ả-rập, ban cho những người hiểu biết. Mang lại cho họ những tin tốt lành và những lời cảnh báo nhưng nhiều người trong số họ quay đi, vì thế họ không nghe được.   (Kinh Qur'an, 41:2-4)

Trong một dịp khác và khi đáp lại lời thỉnh cầu ngừng kêu gọi mọi người đi theo Islam của người chú, Thiên Sứ Muhammad đã trả lời một cách quả quyết và thành thật: {Thưa Chú! Cháu thề nhân danh Thượng Đế, Cho dù họ có đem cả mặt trời đặt lên tay phải và mặt trăng đặt lên tay trái của cháu, cháu vẫn không từ bỏ sự việc này (kêu gọi mọi người đi theo Islam), cho đến khi Thượng Đế làm cho Islam chiến thắng và dù có chết cháu cũng phải bảo vệ nó.}12

Thiên Sứ Muhammad và một số ít người bạn không chỉ phải chịu sự ngược đãi trong suốt 13 năm mà còn phải bị những người đa thần vài lần cố tìm cách sát hại Thiên Sứ Muhammad. Có lần bọn chúng từng cố sát hại bằng cách thả cho hòn đá to rơi xuống đầu Ông.13  Còn lần khác, chúng định giết Ông bằng cách đầu độc thức ăn.14  Điều gì có thể chứng minh cho vấn đề này, một cuộc đời đầy đau khổ va hy sinh, ngay cả khi Ông đã hoàn toàn vượt qua được tất cả những gian truân? Điều gì có thể lý giải đức tính khiêm tốn và cao thượng mà Ông đã thể hiện trong những thời điểm vinh quang nhất khi Ông luôn khăng khăng cho rằng những thành công đó là nhờ có sự giúp sức của Thượng Đế chứ không phải nhờ tài năng của cá nhân Ông? Liệu những người ham muốn quyền lực và muốn mình trở thành trung tâm của vũ trụ có được những đức tính như thế?

Wednesday, February 22, 2023

Chuyện nàng Zaynab

https://nghiencuulichsu.com/2014/07/16/than-the-su-nghiep-cua-muhammad/


 CHUYỆN NÀNG ZAYNAB (Ngôn tình, 18+)



Sử ghi: Mẹ của Zaynab là em gái ruột của cha Muhammad. Người chồng đầu tiên của Zaynab chẳng may qua đời không lâu sau cưới, khi Zaynab mới đôi mươi. Zaynab theo anh ruột mình vào doanh trại của Muhammad. Anh trai bà là một trong các tướng. Năm 28 tuổi, Zaynab được Muhammad se duyên, kết hôn với Zaid - một nô lệ từ nhỏ của Khadija (người vợ đầu tiên của Muhammad) - sau Zaid trở thành con nuôi của Muhammad vì tình cảm tốt đẹp. Ban đầu Zaynab và anh trai hết sức khước từ cuộc hôn nhân này vì nhiều lý do. Trong đó có cả tự tôn giai cấp. Nhiều người nghĩ Zaid không xứng vỡi Zaynab vì anh ta xuất thân chỉ là một nô lệ, dù đã được Muhammad nhận làm con nuôi. Tuy nhiên cũng chính lý do này mà Muhammad càng quyết mai mối bằng được.

Rảnh rỗi sinh nông nổi, hôm nay bốc mộ cuộc tình, bịa đặt sáng tác vài lời dựa trên những chi tiết có thật, cho tình sử xa xưa thêm phần hấp dẫn.


~~~~~~~~~~~~~~~~




Không ai để ý tới một người phụ nữ luống tuổi đang ngồi một mình bên những tấm da thuộc, xử lý từng mảng da cừu và lạc đà, để biến chúng thành những chiếc áo ấm cho mùa đông lạnh giá của sa mạc A Rập. Bà có mái tóc đã ngả màu và đôi tay run run nhăn nheo. Dường như dấu vết thời gian không kiêng dè một loài hoa nào. Zaynab, một cái tên phổ biến của vùng A Rập, nghĩa là "Đóa hoa đẹp tỏa hương".

.
.
.

- Zaynab! Con gái yêu của ta, sau này con phải lấy một người chồng thật xứng đáng! Nhìn xem, con ta vừa đẹp người, đẹp nết, lại còn khéo tay hay làm. Các anh chị con không ai có thể thuộc một tấm da hoàn hảo như con đâu!

- Mọi người xem này, con bé mới mấy tuổi đầu mà đã làm giỏi hơn cả cha nó rồi! Có cái nghề thuộc da này, ở đâu cũng không sợ đói. Nhà chúng tôi mấy đời đều cha truyền con nối nghề này mà trụ được trong thời buổi loạn lạc ... Các vị xem! Đây, tấm áo này làm từ da cừu, đảm bảo mặc không ấm thì hoàn tiền toàn bộ!

- Zaynab! Lại đây chơi với các anh chị nào! Làm gì mà cặm cũi mãi ... em lại thích tranh công của tất cả đó hử?!

- Zaynab! Ngày mai chúng ta lên đường rồi, nghỉ sớm đi, làm cả đời mà!

- Zaynab! Bông hoa thơm của cả nhà chúng ta, ôi xem con xinh quá, cậu trai này thật diễm phúc.

- Đừng buồn Zaynab! Cậu ấy mất rồi nhưng đời còn dài, phải mạnh mẽ lên, em phải sống tiếp! Đi, anh em mình đi gặp Muhammad. Có nhiều chuyện thú vị để làm ... Em sẽ là quý bà làm ăn phát tài nhất ở Mecca! Ôi em gái xinh đẹp của anh. Vui lên nào, rồi mọi chuyện sẽ tốt đẹp.


Đến doanh trại, chứng kiến sự sống nay chết mai của binh sĩ, Zaynab rất đau lòng. Cô gái trẻ không ngại mọi việc khó nhọc: xách nước, giặt dũ, nấu bếp, chăm sóc binh lính bị thương, mọi việc ... và trong những lúc rảnh rỗi, cô luôn xử lý những tấm da cừu. Zaynab thường nở nụ cười tươi tắn với tất cả mọi người. Cô như đóa hoa thơm giữa một vùng áp lực chết chóc. Tiếng cười cô xóa tan những lo sợ của tất cả. Zaynab ngây thơ đùa: "Các anh phấn chấn lên! Ai còn sống trở về sẽ được Zaynab kén làm chồng!" Tất cả cùng bật cười. Ai chẳng biết nàng kén cá chọn canh thế nào. Được làm chồng Zaynab còn khó hơn việc trở về nữa là ... Họ lại cá cược xem ai sẽ được nàng hỏi thăm trước, khi trở về.

Zaynab mỉm cười, ánh mắt nàng tràn ngập hy vọng, rằng tất cả sẽ trở về bình an. Nàng ngồi bên tấm da thuộc chuẩn bị khâu thành một chiếc áo. Mà trên tấm da có dòng chữ nhỏ bé nàng đã kỳ công dùng bút viết tên một người. Ở chỗ khó nhìn nhất mà chẳng ai để ý. Tên một người mà từ ngày đến đây, hình bóng đó đã khắc sâu vào linh hồn nàng: Muhammad.

Chàng rất ít khi nhìn đến nàng. Chàng luôn bận rộn. Chàng luôn nói chuyện với anh của nàng, nhưng chẳng mảy may hỏi han nàng. Ngày mai, khi khâu xong tấm áo này, nàng sẽ nhờ anh trai mang đến chỗ chàng, nói rằng đây là chiếc áo da thuộc mà Zaynab vừa hoàn thành. Áo ấm hy vọng chàng đừng chối từ. Nghĩ vậy Zaynab lại ra công, thoăn thoắt khâu, từng mũi kim sợi chỉ khéo léo dịu dàng như tâm tình người phụ nữ trẻ đang yêu. Một tình yêu kính ngưỡng. Muhammad là tương lai của tất cả. Muhammad sẽ trở về!

...

Thời gian thấm thoắt trôi qua, Zaynab đã ở trong quân đoàn 3 năm rồi. Cứ mấy tháng, nàng lại được tin chàng vừa cưới một người vợ mới. Nàng không biết họ là ai, và cũng chẳng quan tâm. Chàng cưới một cô bé lên 6 làm vợ, ai cũng to nhỏ xì xầm. Nàng không quan tâm. Chàng vĩnh viễn là người nam tuyệt hảo nhất trong mắt nàng. Nàng nhớ ánh mắt xa xăm mà thăm thẳm đó. Nhớ lúc Chàng nói trước tất cả về Islam, về Allah, về cầu nguyện và quy phục. Nàng nhớ sự chân thành, mãnh liệt và tin cậy toát lên từ toàn bộ con người chàng. Như là, từng hơi thở của chàng sẽ hồi sinh những sa mạc chia rẽ này ... như anh trai nàng vẫn nói.


Ngày nọ, nàng nhận được tin sét đánh: Nàng sẽ phải cưới Zaid, theo lệnh của Muhammad. Zaid là con nuôi của ngài!

Thật là một vinh dự đau sót. Nàng kiên quyết chối từ. Zaid, cái đuôi này nàng đã cố cắt từ lâu. Vậy mà ... Chàng lại nhân danh Allah để tác hợp. Ngày thành hôn với Zaid, nàng cố tươi cười, nhưng nụ cười như chiếc mặt nạ thủy tinh trực rơi vỡ, như những giọt lệ nàng âm thầm khóc khi đêm về. Chàng cũng cười, một nụ cười xa xăm mà nàng chẳng bao giờ với tới.

...

Hai năm sau, vào Mùa đông năm ấy, chàng tới gõ cửa nhà nàng.

Gõ vào trái tim mỏng manh của nàng, gõ vào tình yêu tưởng rằng đã thành công chôn giấu. Chàng đã cám dỗ nàng! Phải vậy! Muhammad khẽ cười và chỉ nói ba từ: "Em đẹp thật!" Thế mà nàng đã thổn thức cả đêm không ngủ.

Những tưởng đó chỉ là một giấc mơ, một chuyện đùa nào đó từ lãnh đạo. Nàng coi như chuyện tầm phào. Yên phận làm vợ của Zaid theo đúng ý chàng, vậy là ổn. Ai ngờ, Zaid làm to chuyện. Chồng nàng cứ một mực cho rằng vào cái ngày chồng vắng nhà đó, nàng đã làm điều quá trớn gì với Muhammad. Ban đầu chỉ là nghi ngờ, sau thành khăng khăng, khẳng định. Mặc cho nàng thanh minh, giải thích thế nào. Nàng đã nói đi nói lại: "Ông ấy chỉ khen em đẹp, thật chỉ có vậy thôi!"

Nhưng Zaid không tin. Sự ghen tuông làm bất cứ ai điên cuồng. Hắn uống rượu say về, to tiếng, thẩm tra, xét hỏi đủ điều:

- CÔ NÓI THẬT ĐI! CÔ NGỦ VỚI LÃO TA RỒI CHỨ GÌ?!!!

- NÀY THÌ IM LẶNG! TÔI CHO CÔ BIẾT THẾ NÀO LÀ IM LẶNG! (Zaid dùng sức xé rách làm đôi tấm da thuộc nàng đang làm dở)

- CÔ LÀ MỘT CON ***! CÔ QUYẾN RŨ ÔNG TA RỒI CÒN CHỐI HẢ ...

- SAO CÔ DÁM CHO LÃO VÀO NHÀ ?!!! NHÀ NÀY AI LÀ CHỦ? ...

- CÔ YÊU LÃO TA RỒI SAO?! CÁI CON ĐÀN BÀ MẤT NẾT NÀY! ...

- CÔ KHÓC MÀ ĐƯỢC HẢ?! TÔI KHÔNG PHẢI LÀ LÃO TA NÊN CÔ KHÓC HẢ!? ...

- CÔ MUỐN THEO LÃO TA! CÔ TƯỞNG TÔI MÙ À?! ...

- NGHE ĐẾN TÊN ÔNG TA LÀ CÔ ĐÃ ĐỎ MẶT XẤU HỔ, CÓ AI LÀ KHÔNG THẤY ?! ...

- THÔI CÔ ĐỪNG GIẢ BỘ NỮA, XIN CÔ NÓI THẬT CHO, ĐỂ TÔI BIẾT ĐƯỜNG LIỆU!!!! LÃO TA LÀ CHA NUÔI TÔI ĐÓ! CHA BẢO SAO TÔI PHẢI NGHE VẬY!

Zaid lại gào lên, đập phá tan nát hết mọi thứ trong nhà, và cả trái tim như pha lê của Zaynab.

Nàng lau nước mắt, bình thản nói: "Phải đó, tôi yêu Muhammad. Và nếu chàng đồng ý thì tôi còn muốn cưới chàng nữa kìa!"

Zaid sững sờ và tuyệt vọng, đau đớn và thống hận, chính nàng đã thú nhận, chính nàng đã nói ra sự thật đó. Zaid loạng choạng vụt ra ngoài, đêm tối mịt mùng như chính tương lai của hắn. Vợ hắn mà lại yêu cha của hắn! Người mà hắn một lòng một dạ yêu kính tôn thờ. Người đã nuôi hắn từ những ngày còn là thằng bé nô lệ gầy gò ốm o. Người mà hắn nguyện phó cả sinh mạng, phục vụ hết lòng. Muhammad có bao nhiêu vợ ai chẳng biết, nhưng hắn chỉ có duy nhất một người con gái này. Hắn yêu thương nàng, yêu nàng từ ngày đầu tiên gặp gỡ. Yêu nàng tha thiết, yêu nụ cười tươi xinh và bàn tay duyên dáng chăm chỉ của nàng. Hắn muốn giết nàng! Allah chứng dám! Nếu hắn không chạy ra khỏi nhà lúc bấy giờ, ...

Zaid điên cuồng đau khổ, hắn tàn nhẫn tự chém lên người mình mấy vết, cho nguôi đi nỗi hận. Hắn không bằng Cha hắn, tuyệt đối không thể bì. Đến người phụ nữ của mình mà hắn cũng không giữ được. Hai năm qua hắn những tưởng nàng đã dần dần yêu hắn, đã có hắn trong lòng. Hắn sẽ đem tất cả sức lực làm bất cứ điều gì khiến nàng vui vẻ. Hắn kinh doanh phát đạt, tiền bạc đều đưa cho nàng giữ. Hắn giúp nàng mở thương hiệu, hắn chạy vạy lo toan công vụ cho Muhammad. Hắn là cận sự của cha, bao điều cha dạy hắn, hắn còn chưa trổ hết tài.

Zaid hận Muhammad đã đặt cho hắn cái tên họ này. Ước gì hắn chỉ là một tên nô lệ quèn tầm thường. Ước gì hắn chưa bao giờ gặp được Zaynab. Hai kẻ vô tâm vô phế đã cướp đi cả lòng tự trọng lẫn sự tự tôn của hắn. Ngày hôm sau, như một cái xác không hồn, hắn bước vào nơi quen thuộc để gặp cha, cũng để xác định một lần cuối mối quan hệ này.

Zaid cúi đầu: "Zaynab muốn cưới ngài nếu ngài đồng ý. Tôi có thể ly hôn cô ấy."

Muhammad nheo mắt nhìn Zaid, trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu, rồi bỗng bật cười một cách quỷ dị: 

"Ta đồng ý".

Zaid vẫn cúi gằm để Muhammad không trông thấy khuôn mặt thê thảm của hắn. Một nỗi nhục nhã dâng trào khiến hắn hoa mắt chóng mặt, dòng máu trong người chợt nóng, hắn biết, nếu hắn không giết Muhammad giờ này, thì có lẽ cũng sẽ giết chính mình, xóa sạch cái tên họ cùng quá khứ này. Từ giờ hắn không còn là con trai nuôi của Muhammad. Tên họ hắn thà là họ của một tên nô lệ. Và Tình Cha Con, sẽ chỉ còn là sa mạc. Zaid mồ côi từ nhỏ, hắn coi kẻ này là thực sự là cha mà. Hắn cúi đầu chào cha lần cuối, rồi rảo bước ra ngoài, hắn cứ đi mãi về phía sa mạc, cho đến khi trái tim khô kiệt và ảo giác xâm chiếm. Như một giấc mơ mà hắn không muốn tỉnh lại:

- Zaid! Từ giờ gọi ta là cha. Ta sẽ dạy ngươi cưỡi lạc đà cho ra dáng thương nhân.

- Zaid của cha giỏi lắm. Giỏi hơn cha rồi đó! Nào ta cùng đua ngựa!

- Zaid, lại đây cha bảo, đem món đồ này đến chỗ nọ! Đi đường cẩn thận nghe con. Nhớ chuẩn bị đủ tư trang.

- Zaid, con nghĩ sao về việc này?

- Zaid, con có thích cô gái nào chưa?


...


Hắn tỉnh lại, thấy mình nằm giữa sa mạc, mặt trăng đã lên cao thành một hình lưỡi liềm, điểm trên nền trời đen là hằng hà sa số các ngôi sao lấp lánh. Hắn bỗng cười như đứa trẻ, hắn nhớ Muhammad đã từng chỉ cho hắn cách nhìn sao để đoán định phương hướng, để không đi lạc trên những sa mạc mênh mông toàn cát. Muhammad tin cậy hắn trong mọi sự vụ, công việc. Hắn cũng tin cậy Muhammad sẽ chăm sóc cho Zaynab, biết đâu tốt hơn hắn. Đơn giản là vậy. Zaid đứng đậy, lấy lại tinh thần, trở về hoàn tất việc ly hôn với Zaynab. Hắn không còn là Zaid của ngày hôm qua, một cuộc đời mới sẽ bắt đầu.


...

Ly hôn hoàn tất, ngay lập tức hôn lễ diễn ra, dĩ nhiên là giữa Muhammad và Zaynab.

Bao lời ong tiếng ve đàm tiếu khắp thiên hạ, cả Mecca đều biết cô dâu này là ai. Nhưng không ai dám công khai chế giễu điều gì. Muhammad không ngờ rằng Zaid nói được làm được, hắn đã ly hôn thật. Chẳng nhẽ "nhà tiên tri" mà lại không giữ lời. Sao thì sao, đâm lao thì theo lao. Chết ai đâu mà sợ! Nàng đã nguyện ý, thì thành toàn cho nàng vậy!

Đám cưới to chưa từng thấy, Muhammad không tiếc tay thể hiện sự giàu có. Cũng là để cho Zaid yên tâm, Zaynab làm vợ nhà tiên tri thì không phải chịu thiệt thòi gì.

Zaynab vẫn tưởng rằng mọi sự chỉ là trò đùa. Nàng không dám nghĩ có một ngày mình trở thành vợ của Muhammad. Hẳn là sự sắp đặt của Allah, của 7 tầng trời. Ngày hôn lễ, nàng như một đóa hoa tuyệt đẹp, chỉ muốn nở vì một người. Nàng đỏ mặt vì bao cái nhìn tròng trọc đầy ý giễu cợt. Nàng chỉ muốn chùm tấm da thuộc lên đầu, để khỏi chịu những cái xét nét, khinh chê. Nếu tình yêu là sai, thì cứ để sai lầm này nhấn chìm nàng mãi mãi trong tình yêu vô hạn.

Chàng cùng nàng hợp cẩn, đêm của tiếng gõ xa xăm khi nào làm bùng cháy một ngọn lửa say đắm. Vậy mà ... nàng nghe thấy chàng gọi một cái tên lạ trong mơ: Kha..di... Sau này nàng mới biết, đó là tên bà vợ già đã chết từ lâu của chàng. Bà ấy chết lâu vậy rồi mà chàng vẫn chưa quên được sao? Nàng sẽ giúp chàng quên được! Phải thế!

Thời gian trôi qua, nàng thể hiện rất tốt vai trò của mình trong ngôi nhà mới. Nàng biết, sau lưng nàng không ít điều dị nghị, không ít sự phán xét. Nàng mặc kệ tất cả, chỉ cần Muhammad hiểu nàng, yêu nàng, vậy là đủ. Nhưng sâu trong tâm, nàng vẫn thấy thật bất công cho chính mình. Tại sao tất cả đều cho rằng đó là lỗi của nàng? Tất cả đều cho rằng nàng đã phản bội chồng cũ, đã cám dỗ bố chồng. Tất cả đều coi nàng là con đàn bà vô liêm sỉ nhất trên đời. Nàng thực sự ngày càng giận. Nỗi giận ban đầu còn âm ỉ, sau dần nhiều lúc bồng lên bất chợt. Ai trong nhà cũng biết nàng dễ cáu, tuy cũng dễ nguôi. Không ai dám làm nàng phật ý, vì nàng sẽ mắng họ rất chua cay. Nàng không chịu được khi thấy cảnh Muhammad sủng ái một cô gái Ai Cập nào đó, và trong toàn bộ số thê thiếp, chỉ cô này có mang thai con chàng. Mỗi lần nghĩ đến ánh mắt chàng âu yếm lưu luyến nhìn cô ta, nàng vô cùng đau khổ.

Chẳng phải chàng khen nàng thật đẹp, cô ấy đẹp hơn nàng ở điểm gì? Zaynab rất hiền, nhiều lần cô gái Ai Cập bị bắt nạt, nàng đều ra tay bảo vệ. Ấy nhưng đến một ngày, cô ta và Aishah làm nàng bực! Muhammad cũng làm nàng bực! Nàng nói, nàng hét, nàng bất nhẫn, cho đến khi Muhammad buộc nàng dừng lại. Từ đó chàng không còn quan tâm đến nàng một chút nào nữa. 2 tháng liền không hề nhìn mặt. Nàng biết chàng đã giận rồi. Nàng im lặng làm tiếp những tấm da quen thuộc. Mang trong lòng một nỗi buồn trống trải.

Chàng lại vui vẻ thi chạy với cô vợ bé bỏng Aishah, coi cô bé như hình với bóng. Zaynab gần như tuyệt vọng. Chàng thích cầu nguyện, thích cho người nghèo, nàng cũng làm như vậy. Nàng đứng cả đêm trong phòng để cầu nguyện, căng một sợi dây để nếu mỏi quá thì bám vào. Chàng thích sự giản dị, nàng cũng ăn mặc giản dị giống chàng...

Nhưng tất cả đều chỉ ngưỡng mộ Aisha, vì sự thông minh và trinh bạch của cô ấy. Còn nàng thì sao?

 

--- 



Zaynab, có đóa hoa nào không phai tàn? Nàng tự hỏi chính mình, giờ đã là bà lão 50. Nàng vẫn cặm cụi bên những tấm da thô cần xử lý. Nàng không cần tiền để sống, nhưng vẫn làm công việc thường nhật này. Bởi sau khi làm xong, nàng sẽ vui vì có được những chiếc áo lông cừu đem cho người nghèo. Đây là điều duy nhất mà nàng có thể làm, nàng làm giỏi. Đôi mắt đã mờ, tay khâu cũng không còn nhanh nhẹn, nhiều khi kim đâm vào đầu ngón tay đau nhói. Nhưng nàng rất thích công việc này. Nàng ngồi một chỗ cả ngày làm vậy cũng không chán.

Zaynab mỉm cười, có một loài hoa tỏa hương không phai tàn. Ấy là Hoa Tình Yêu Vĩnh Cửu. Nàng ngả lưng nằm xuống, mơ một giấc thật nhẹ nhàng, trong đó có những tiếng cười của mọi người xung quanh, mà nàng cũng mỉm cười hòa ái. Nàng khoác cho mỗi người trong họ một chiếc áo da tự tay nàng làm được. Ai cũng khen chiếc áo thật ấm, thật chắc, những đường khâu thật khéo... Rồi nàng cười, chia cho mọi người từng đồng còn lại cuối cùng, vì người giàu không thể vào nước thiên đàng.

Zaynab cười nhẹ với một hơi thở ra: Allah!

Nàng trở về với Allah trong Tình Yêu như thế. Khi người ta đến chỗ nàng, chẳng tìm thấy bất cứ một đồng nào, hay vật gì có giá trị, chỉ có vài tấm da đã thuộc xong xuôi.


...


Zaynab cưới Zaid là ý Allah!

Zaynab cưới Muhammad cũng là ý Ngài!

Zaid hay Muhammad thì có gì là quan trọng?

Quan trọng là những tấm da thuộc mà nàng đã làm trong suốt cuộc đời. Bởi những ai mặc chúng, đều cảm nhận một sự ấm áp diệu kỳ!



Hết truyện.







 

 






JK Dissolution

The Order of the Star in the East was founded by the Theosophical Society in 1911 to proclaim the coming of the World Teacher. Krishnamurti was made Head of the Order. On August 3, 1929, the opening day of the annual Star Camp in Ommen, Holland, Krishnamurti dissolved the Order before 3000 members. Below is the full text of the talk he gave on that occasion. 

We are going to discuss this morning the dissolution of the Order of the Star. Many people will be delighted, and others will be rather sad. It is a question neither for rejoicing nor for sadness, because it is inevitable, as I am going to explain. You may remember the story of how the devil and a friend of his were walking down the street, when they saw ahead of them a man stoop down and pick up something from the ground, look at it, and put it away in his pocket. The friend said to the devil, 'What did that man pick up?' He picked up a piece of Truth,' said the devil. 'That is a very bad business for you, then,' said his friend. 'Oh, not at all,' the devil replied, 'I am going to let him organize it.' 

I maintain that Truth is a pathless land, and you cannot approach it by any path whatsoever, by any religion, by any sect. That is my point of view, and I adhere to that absolutely and unconditionally. Truth, being limitless, unconditioned, unapproachable by any path whatsoever, cannot be organized; nor should any organization be formed to lead or to coerce people along any particular path. If you first understand that, then you will see how impossible it is to organize a belief. A belief is purely an individual matter, and you cannot and must not organize it. If you do, it becomes dead, crystallized; it becomes a creed, a sect, a religion, to be imposed on others. This is what everyone throughout the world is attempting to do. Truth is narrowed down and made a plaything for those who are weak, for those who are only momentarily discontented. Truth cannot be brought down, rather the individual must make the effort to ascend to it. You cannot bring the mountain-top to the valley. If you would attain to the mountain-top you must pass through the valley, climb the steeps, unafraid of the dangerous precipices. 

So that is the first reason, from my point of view, why the Order of the Star should be dissolved. In spite of this, you will probably form other Orders, you will continue to belong to other organizations searching for Truth. I do not want to belong to any organization of a spiritual kind, please understand this. I would make use of an organization which would take me to London, for example; this is quite a different kind of organization, merely mechanical, like the post or the telegraph. I would use a motor car or a steamship to travel, these are only physical mechanisms which have nothing whatever to do with spirituality. Again, I maintain that no organization can lead man to spirituality. 

If an organization be created for this purpose, it becomes a crutch, a weakness, a bondage, and must cripple the individual, and prevent him from growing, from establishing his uniqueness, which lies in the discovery for himself of that absolute, unconditioned Truth. So that is another reason why I have decided, as I happen to be the Head of the Order, to dissolve it. No one has persuaded me to this decision. This is no magnificent deed, because I do not want followers, and I mean this. The moment you follow someone you cease to follow Truth. I am not concerned whether you pay attention to what I say or not. I want to do a certain thing in the world and I am going to do it with unwavering concentration. I am concerning myself with only one essential thing: to set man free. I desire to free him from all cages, from all fears, and not to found religions, new sects, nor to establish new theories and new philosophies. Then you will naturally ask me why I go the world over, continually speaking. I will tell you for what reason I do this: not because I desire a following, not because I desire a special group of special disciples. (How men love to be different from their fellow-men, however ridiculous, absurd and trivial their distinctions may be! I do not want to encourage that absurdity.) I have no disciples, no apostles, either on earth or in the realm of spirituality. Nor is it the lure of money, nor the desire to live a comfortable life, which attracts me. If I wanted to lead a comfortable life I would not come to a camp or live in a damp country! I am speaking frankly because I want this settled once and for all. I do not want these childish discussions year after year.

One newspaper reporter, who interviewed me, considered it a magnificent act to dissolve an organization in which there were thousands and thousands of members. To him it was a great act because, he said: 'What will you do afterwards, how will you live? You will have no following, people will no longer listen to you.' If there are only five people who will listen, who will live, who have their faces turned towards eternity, it will be sufficient. Of what use is it to have thousands who do not understand, who are fully embalmed in prejudice, who do not want the new, but would rather translate the new to suit their own sterile, stagnant selves? If I speak strongly, please do not misunderstand me, it is not through lack of compassion. If you go to a surgeon for an operation, is it not kindness on his part to operate even if he cause you pain? So, in like manner, if I speak straightly, it is not through lack of real affection–on the contrary. 

As I have said, I have only one purpose: to make man free, to urge him towards freedom, to help him to break away from all limitations, for that alone will give him eternal happiness, will give him the unconditioned realization of the self. 

Because I am free, unconditioned, whole–not the part, not the relative, but the whole Truth that is eternal–I desire those, who seek to understand me to be free; not to follow me, not to make out of me a cage which will become a religion, a sect. Rather should they be free from all fears–from the fear of religion, from the fear of salvation, from the fear of spirituality, from the fear of love, from the fear of death, from the fear of life itself. As an artist paints a picture because he takes delight in that painting, because it is his self-expression, his glory, his well-being, so I do this and not because I want anything from anyone. You are accustomed to authority, or to the atmosphere of authority, which you think will lead you to spirituality. You think and hope that another can, by his extraordinary powers–a miracle–transport you to this realm of eternal freedom which is Happiness. Your whole outlook on life is based on that authority. 

You have listened to me for three years now, without any change taking place except in the few. Now analyze what I am saying, be critical, so that you may understand thoroughly, fundamentally. When you look for an authority to lead you to spirituality, you are bound automatically to build an organization around that authority. By the very creation of that organization, which, you think, will help this authority to lead you to spirituality, you are held in a cage. 

If I talk frankly, please remember that I do so, not out of harshness, not out of cruelty, not out of the enthusiasm of my purpose, but because I want you to understand what I am saying. That is the reason why you are here, and it would be a waste of time if I did not explain clearly, decisively, my point of view. For eighteen years you have been preparing for this event, for the Coming of the World Teacher. For eighteen years you have organized, you have looked for someone who would give a new delight to your hearts and minds, who would transform your whole life, who would give you a new understanding; for someone who would raise you to a new plane of life, who would give you a new encouragement, who would set you free–and now look what is happening! Consider, reason with yourselves, and discover in what way that belief has made you different–not with the superficial difference of the wearing of a badge, which is trivial, absurd. In what manner has such a belief swept away all the unessential things of life? That is the only way to judge: in what way are you freer, greater, more dangerous to every society which is based on the false and the unessential? In what way have the members of this organization of the Star become different? As I said, you have been preparing for eighteen years for me. I do not care if you believe that I am the World Teacher or not. That is of very little importance. Since you belong to the organization of the Order of the Star, you have given your sympathy, your energy, acknowledging that Krishnamurti is the World Teacher–partially or wholly: wholly for those who are really seeking, only partially for those who are satisfied with their own half-truths. 

You have been preparing for eighteen years, and look how many difficulties there are in the way of your understanding, how many complications, how many trivial things. Your prejudices, your fears, your authorities, your Churches new and old–all these, I maintain, are a barrier to understanding. I cannot make myself clearer than this. I do not want you to agree with me, I do not want you to follow me, I want you to understand what I am saying. This understanding is necessary because your belief has not transformed you but only complicated you, and because you are not willing to face things as they are. You want to have your own gods–new gods instead of the old, new religions instead of the old, new forms instead of the old–all equally valueless, all barriers, all limitations, all crutches. Instead of old spiritual distinctions you have new spiritual distinctions, instead of old worships you have new worships. You are all depending for your spirituality on someone else, for your happiness on someone else, for your enlightenment on someone else; and although you have been preparing for me for eighteen years, when I say all these things are unnecessary, when I say that you must put them all away and look within yourselves for the enlightenment, for the glory, for the purification, and for the incorruptibility of the self, not one of you is willing to do it. There may be a few, but very, very few. So why have an organization? 

Why have false, hypocritical people following me, the embodiment of Truth? Please remember that I am not saying something harsh or unkind, but we have reached a situation when you must face things as they are. I said last year that I would not compromise. Very few listened to me then. This year I have made it absolutely clear. I do not know how many thousands throughout the world–members of the Order–have been preparing for me for eighteen years, and yet now they are not willing to listen unconditionally, wholly, to what I say. 

As I said before, my purpose is to make men unconditionally free, for I maintain that the only spirituality is the incorruptibility of the self which is eternal, is the harmony between reason and love. This is the absolute, unconditioned Truth which is life itself. I want therefore to set man free, rejoicing as the bird in the clear sky, unburdened, independent, ecstatic in that freedom. And I, for whom you have been preparing for eighteen years, now say that you must be free of all these things, free from your complications, your entanglements. For this you need not have an organization based on spiritual belief. Why have an organization for five or ten people in the world who understand, who are struggling, who have put aside all trivial things? And for the weak people, there can be no organization to help them to find the Truth, because Truth is in everyone; it is not far, it is not near; it is eternally there. 

Organizations cannot make you free. No man from outside can make you free; nor can organized worship, nor the immolation of yourselves for a cause, make you free; nor can forming yourselves into an organization, nor throwing yourselves into works, make you free. You use a typewriter to write letters, but you do not put it on an altar and worship it. But that is what you are doing when organizations become your chief concern. 

'How many members are there in it?' That is the first question I am asked by newspaper reporters. 'How many followers have you? By their number we shall judge whether what you say is true or false.' I do not know how many there are. I am not concerned with that. As I said, if there were even one who had been set free, that is enough. 

Again, you have the idea that only certain people hold the key to the Kingdom of Happiness. No one holds it. No one has the authority to hold that key. That key is your own self, and in the development and the purification and in the incorruptibility of that self alone is the Kingdom of Eternity. 

So you will see how absurd is the whole structure that you have built, looking for external help, depending on others for your comfort, for your happiness, for your strength. These can only be found within yourselves. 

You are accustomed to being told how far you have advanced, what is your spiritual status. How childish! Who but yourself can tell you if you are beautiful or ugly within? Who but yourself can tell you if you are incorruptible? You are not serious in these things. 

But those who really desire to understand, who are looking to find that which is eternal, without beginning and without an end, will walk together with a greater intensity, will be a danger to everything that is unessential, to unrealities, to shadows. And they will concentrate, they will become the flame, because they understand. Such a body we must create, and that is my purpose. Because of that real understanding there will be true friendship. Because of that true friendship–which you do not seem to know–there will be real cooperation on the part of each one. And this not because of authority, not because of salvation, not because of immolation for a cause, but because you really understand, and hence are capable of living in the eternal. This is a greater thing than all pleasure, than all sacrifice. 

So these are some of the reasons why, after careful consideration for two years, I have made this decision. It is not from a momentary impulse. I have not been persuaded to it by anyone. I am not persuaded in such things. For two years I have been thinking about this, slowly, carefully, patiently, and I have now decided to disband the Order, as I happen to be its Head. You can form other organizations and expect someone else. With that I am not concerned, nor with creating new cages, new decorations for those cages. My only concern is to set man absolutely, unconditionally free.' 


https://www.jkrishnamurti.org/about-dissolution-speech


Questioner: I really would like to know if there is a god. If there isn't life has no meaning. Not knowing god, man has invented him in a thousand beliefs and images. The division and the fear bred by all these beliefs have divided him from his fellow men. To escape the pain and the mischief of this division he creates yet more beliefs, and the mounting misery and confusion have engulfed him. Not knowing, we believe. Can I know god? I've asked this question of many saints both in India and here and they've all emphasized belief. "Believe and then you will know; without belief you can never know." What do you think?

Krishnamurti: Is belief necessary to find out? To learn is far more important than to know. Learning about belief is the end of belief. When the mind is free of belief then it can look. It is belief, or disbelief, that binds; for disbelief and belief are the same: they are the opposite sides of the same coin. So we can completely put aside positive or negative belief; the believer and the non-believer are the same. When this actually takes place then the question, "Is there a god?" has quite a different meaning. The word god with all its tradition, its memory, its intellectual and sentimental connotations - all this is not god. The word is not the real. So can the mind be free of the word?

Questioner: I don't know what that means.

Krishnamurti: The word is the tradition, the hope, the desire to find the absolute, the striving after the ultimate, the movement which gives vitality to existence. So the word itself becomes the ultimate, yet we can see that the word is not the thing. The mind is the word, and the word is thought.

Questioner: And you're asking me to strip myself of the word? How can I do that? The word is the past; it is memory. The wife is the word, and the house is the word. In the beginning was the word. Also the word is the means of communication, identification. Your name is not you, and yet without your name I can't ask about you. And you're asking me if the mind can be free of the word - that is, can the mind be free of its own activity?

Krishnamurti: In the case of the tree the object is before our eyes, and the word refers to the tree by universal agreement. Now with the word god there is nothing to which it refers, so each man can create his own image of that for which there is no reference. The theologian does it in one way, the intellectual in another, and the believer and the non-believer in their own different ways. Hope generates this belief, and then seeking. This hope is the outcome of despair - the despair of all we see around us in the world. From despair hope is born, they also are two sides of the same coin. When there is no hope there is hell, and this fear of hell gives us the vitality of hope. Then illusion begins. So the word has led us to illusion and not to god at all. God is the illusion which we worship; and the non-believer creates the illusion of another god which he worships - the State, or some utopia, or some book which he thinks contains all truth. So we are asking you whether you can be free of the word with its illusion.

Questioner: I must meditate on this.

Krishnamurti: If there is no illusion, what is left?

Questioner: Only what is.

Krishnamurti: The "what is" is the most holy.

Questioner: If the "what is" is the most holy then war is most holy, and hatred, disorder, pain, avarice and plunder. Then we must not speak of any change at all. If "what is" is sacred, then every murderer and plunderer and exploiter can say, "Don't touch me, what I'm doing is sacred".

Krishnamurti: The very simplicity of that statement, " 'what is' is the most sacred", leads to great misunderstanding, because we don't see the truth of it. If you see that what is is sacred, you do not murder, you do not make war, you do not hope, you do not exploit. Having done these things you cannot claim immunity from a truth which you have violated. The white man who says to the black rioter, "What is is sacred, do not interfere, do not burn", has not seen, for if he had, the Negro would be sacred to him, and there would be no need to burn. So if each one of us sees this truth there must be change. This seeing of the truth is change.

Questioner: I came here to find out if there is god, and you have completely confused me.

Krishnamurti: You came to ask if there is god. We said: the word leads to illusion which we worship, and for this illusion we destroy each other willingly. When there is no illusion the "what is" is most sacred. Now let's look at what actually is. At a given moment the "what is" may be fear, or utter despair, or a fleeting joy. These things are constantly changing. And also there is the observer who says, "These things all change around me, but I remain permanent". Is that a fact, is that what really is? Is he not also changing, adding to and taking away from himself, modifying, adjusting himself, becoming or not becoming? So both the observer and the observed are constantly changing. What is is change. That is a fact. That is what is.

Questioner: Then is love changeable? If everything is a movement of change, isn't love also part of that movement? And if love is changeable, then I can love one woman today and sleep with another tomorrow.


(Ông phóng viên này chỉ suốt ngày nghĩ tới ngủ với gái, nên nhầm lẫn Love - Tình Yêu với Sex - Tình Dục. Rành mạch hai ký tự khác biệt thế mà con người cứ cố tình nhầm lẫn là sao?! 


Thế là JK lại phải lái câu trả lời sang hướng khác. Để khéo léo kết thúc cho xong cái chủ đề thiểu não: khẳng định hay phủ định về God.)


Krishnamurti: Is that love? Or are you saying that love is different from its expression? Or are you giving to expression greater importance than to love, and therefore making a contradiction and a conflict. Can love ever be caught in the wheel of change? If so then it can also be hate; then love is hate. It is only when there is no illusion that "what is" is most sacred. When there is no illusion "what is" is god or any other name that can be used. So god, or whatever name you give it, is when you are not. When you are, it is not. When you are not, love is. When you are, love is not.


https://www.jkrishnamurti.org/content/there-god


Việt dịch: 

Tuyên bố giải tán Hội Ngôi Sao - Jiddu Krishnamurti - tháng 8.1929


"TRUTH IS A PATHLESS LAND"


Năm 1911 Hội Ngôi Sao Phương Đông gọi tắt là Hội Ngôi Sao (The Order of the Star in the East - OSE) được thành lập, dành ghế Chủ tịch cho Krishnamurti. 


Tôn chỉ của Hội là tập hợp những người tin tưởng vào sự giáng thế của "đấng Thế Sư" trên thế giới.


Năm 1912 Krishnamurti chính thức được người ta tuyên dương là "Thế Sư" (World Teacher). 


Thế nhưng năm 1929, với bài thuyết giảng tâm linh quyết liệt "Truth is a pattless land", Krishnamurti đã tuyên bố giải thể Hội Ngôi Sao. 


Với hành động đó, Krishnamurti từ chối mọi sở hữu về bất động sản, tiền bạc, quyền lực và mọi thẩm quyền của một vị "giáo chủ" được kỳ vọng mong mỏi trong tâm ý thức của trần nhân.


Ngày mùng 02 tháng 8, năm 1929, ngày khai mạc Hội Nghị hàng năm tại Trại của Hội Ngôi Sao ở Ommen - Hà Lan, Krishnamurti đã "Tuyên bố giải tán Hội Ngôi Sao". 


Lời Krishnamurti trong buổi nói chuyện đầy xúc động ấy vẫn còn vang vọng và có giá trị cho đến tận thời nay, và nó đặc biệt quan trọng vì sau này, chính Krishnamurti đã xác nhận rằng nội dung bài nói chuyện là tâm điểm của triết lý Krishnamurti.


Nội dung:

Sáng nay chúng ta sẽ bàn về việc giải tán Hội Ngôi Sao. Nhiều người sẽ vui mừng, còn người khác thì lại rất buồn. Đây không phải là chuyện để vui hay buồn, mà là chuyện không thể tránh được, như tôi sẽ giải thích sau.


Các vị chắc còn nhớ câu chuyện này: Con quỷ và tên bạn đang đi đường thì thấy có người cúi nhặt lên vật gì đó dưới đất, ngắm nghía nó rồi cất ngay vào túi.

- Tên bạn hỏi con quỷ: "Anh ta nhặt gì thế?".

- Quỷ trả lời: "Anh ta nhặt một mảnh Chân Lý."

- Tên bạn nói: "Vậy là quỷ sắp gặp chuyện rất tồi tệ rồi đấy."

- Quỷ trả lời: "Chẳng sao đâu. Ta sẽ khiến hắn lập tổ chức cho Chân Lý."


Tôi khẳng định rằng Chân lý không có đường vào, và chúng ta không thể tiếp cận nó bằng bất kỳ con đường nào, bằng bất kỳ tôn giáo nào, bằng bất kỳ giáo phái nào. Đó là quan điểm của tôi, và tôi kiên định với quan điểm này một cách tuyệt đối và toàn triệt.


Chân Lý là vô hạn, toàn triệt, không thể tiếp cận bằng bất cứ con đường nào, không thể tổ chức nó được; cũng không nên thành lập tổ chức để dẫn dắt hay ép buộc người khác theo con đường riêng biệt nào đó.


Nếu chúng ta hiểu được điều đó thì chúng ta sẽ thấy không thể lập tổ chức cho một niềm tin. Một niềm tin chỉ đơn thuần là vấn đề cá nhân, chúng ta không thể và không được lập tổ chức cho nó.


Nếu chúng ta làm thế, nó sẽ trở nên chết cứng, bất động; nó sẽ trở thành một tín ngưỡng, một giáo phái, một tôn giáo, đem áp đặt lên người khác. Đây là điều mà mọi người trên toàn thế giới đang nỗ lực làm.


Chân lý bị thu hẹp lại và biến thành món đồ chơi cho những kẻ yếu đuối, cho những kẻ chỉ bất mãn vô chừng. Chân Lý không thể hạ xuống cho mọi người, mà, thay vì vậy, cá nhân phải cố gắng vươn lên nó. Chúng ta không thể mang đỉnh núi xuống thung lũng.


Nếu chúng ta muốn đến tận đỉnh cao chúng ta phải vượt qua thung lũng, trèo dốc đứng, không sợ hãi những vực sâu nguy hiểm. Chúng ta phải trèo đến Chân Lý, nó không thể bị giản lược hay cải biến lại cho vừa tầm với chúng ta.


Lòng say mê chạy theo ý niệm được các tổ chức cổ súy, nhưng các tổ chức chỉ đánh thức sự mê say từ bên ngoài. Sự say mê nếu không đến từ lòng yêu Chân Lý vì Chân Lý, mà chỉ được khơi dậy bởi các tổ chức thì chẳng có giá trị gì.


Tổ chức trở thành một cơ cấu cho các thành viên lười biếng của nó đeo bám vào. Họ không còn phấn đấu vì Chân Lý hay đỉnh cao, mà lại co rúc mình vào một cái hốc thuận tiện nào đó, hay để mặc tổ chức đặt để cho mình, và nghĩ rằng tổ chức sẽ đem mình đến Chân Lý.


Đó là lý do đầu tiên tôi nghĩ rằng nên giải tán Hội Ngôi Sao. Dù vậy, tôi biết các vị sẽ thành lập hội khác, các vị sẽ tiếp tục gia nhập các tổ chức khác để tìm kiếm Chân Lý. Tôi không muốn thuộc về một tổ chức tâm linh nào, xin hiểu cho điều này.


Theo tôi các tổ chức hữu dụng là loại tổ chức khác hẳn, chẳng hạn như tổ chức hàng không đưa tôi bay đến Luân Đôn; tổ chức bưu điện, hay điện tín... chúng đơn giản chỉ là cơ cấu máy móc. Hay như tôi thích dùng xe hơi, tàu thủy để du hành; đó chỉ là máy móc vật chất, chẳng có liên quan gì đến tâm linh.


Một lần nữa, tôi khẳng định rằng không có tổ chức nào dẫn dắt con người hướng đến tâm linh được. Nếu một tổ chức được thành lập vì mục đích này, nó sẽ trở thành nạng chống, một sự yếu đuối, sự câu thúc, và sẽ làm què quặt cá nhân, ngăn chận không cho hắn phát triển, không cho hắn hình thành sự độc đáo của mình, là đặc tính có được khi tự mình khám phá ra Chân Lý có tính tuyệt đối và toàn triệt.


Và đó cũng là lý do vì sao, với tư cách nhà lãnh đạo Hội, tôi quyết định giải tán Hội Ngôi Sao. Không có ai thuyết phục tôi ra quyết định này cả.


Đây không phải là hành động cao cả gì đâu, chẳng qua vì tôi không muốn có tín đồ, và tôi thực tâm nói vậy. Khi chúng ta theo ai đó thì chúng ta không còn theo Chân Lý nữa. Tôi không quan tâm xem các vị chú ý đến lời tôi nói hay không.


Tôi muốn làm một số việc trên đời này và tôi sẽ làm với sự cố gắng không sờn lòng. Tôi chỉ quan tâm đến một việc chính yếu: Giải thoát cho con người. Tôi muốn giải thoát con người khỏi mọi lồng giam, khỏi mọi nỗi sợ hãi, và không cần phải tìm đến tôn giáo, các hệ phái mới, cũng không tạo ra lý thuyết mới, triết lý mới.


Hẳn nhiên các vị sẽ hỏi vậy thì tại sao tôi tiếp tục đi khắp thế giới để nói chuyện. Tôi sẽ nói lý do vì sao tôi làm điều này: không phải vì tôi muốn có người theo mình, không phải vì tôi muốn có một nhóm tuyển chọn gồm những môn đệ ưu tú nào đó.


Tôi không có môn đệ, không có tông đồ, dù ở thế gian này hay trong lãnh địa tâm linh. Sao mà người ta thích khác biệt với đồng loại mình như thế, dù sự khác biệt đó đáng buồn cười, ngớ ngẩn và nhỏ nhen đến đâu! Tôi không muốn khuyến khích điều ngớ ngẩn đó.


Không phải vì cám dỗ của đồng tiền, cũng không phải vì ham sống cuộc đời tiện nghi. Nếu tôi muốn sống cuộc đời tiện nghi thì tôi đã không tham gia cuộc họp trại hay sống trong một quốc gia nóng ẩm như thế này! Tôi nói thẳng thắn vì tôi muốn việc này giải quyết một lần cho xong. Tôi không muốn mấy chuyện cãi vã trẻ con như vầy kéo dài năm này qua năm nọ.


Có một nhà báo đến phỏng vấn tôi cho rằng việc giải tán một tổ chức có hàng ngàn thành viên là một hành động cao quý. Ông ấy xem đó là một hành động vĩ đại, và hỏi: ”Rồi sau này ông sẽ làm gì, sẽ sống ra sao? Ông sẽ không còn người ủng hộ, người ta không còn nghe ông nói nữa.”


Nếu chỉ có năm người chịu lắng nghe, chịu sống, chịu hướng về vĩnh cửu, thế là đủ rồi. Ích lợi gì khi có hàng ngàn người nhưng không ai hiểu gì cả, lòng tẩm đầy thành kiến, những người không muốn điều mới lạ mà chỉ diễn dịch nó cho vừa cái tự ngã cằn cỗi, trì trệ của họ?


Nếu tôi có nói cứng rắn thì xin đừng hiểu lầm, không phải vì tôi thiếu lòng trắc ẩn đâu. Khi chúng ta đến bác sĩ xin giải phẩu, nếu vị bác sĩ mổ xẻ làm ta đau thì có phải vì ông ta không tốt chăng? Cũng giống như thế, nếu tôi nói thẳng thắn thì không phải vì tôi thiếu tình thương thật sự, mà ngược lại.


Như đã nói, tôi chỉ có một mục tiêu: Giải thoát cho con người, khuyến khích họ hướng tới tự do, giúp họ phá bỏ những giới hạn, vì như thế mới đem hạnh phúc vĩnh cửu đến với họ, mới giúp họ hoàn toàn thấu hiểu bản thân mình.


Bởi vì tôi tự do, không bị khuôn định, là Chân Lý toàn vẹn – không phải từng phần, không phải tương đối, mà là Chân Lý toàn vẹn vĩnh cửu – tôi mong những người tìm đến để hiểu tôi sẽ được tự do; không phải để theo tôi, không phải để từ tôi tạo dựng một cái lồng giam mà sau này sẽ trở thành một tôn giáo, một giáo phái.


Thực ra họ nên giải thoát khỏi mọi sợ hãi - khỏi nỗi sợ tôn giáo, khỏi nỗi sợ cứu rỗi, khỏi nỗi sợ tâm linh, khỏi nỗi sợ tình yêu, khỏi nỗi sợ cái chết, khỏi nỗi sợ chính cuộc sống. Như một nghệ sĩ vẽ tranh vì anh ta cảm thấy vui sướng khi vẽ, bởi vì đó là cách tự biểu lộ của anh ta, sự vinh quang của anh ta, hạnh phúc của anh ta, tôi cũng làm thế nhưng không phải vì tôi muốn điều gì đó của ai.


Các vị đã quen thuộc với uy lực hay không khí của uy lực mà các vị nghĩ là sẽ dẫn mình đến chốn tâm linh. Các vị nghĩ và hy vọng rằng người khác, với năng lực phi thường như phép lạ của họ, sẽ đưa các vị đến lãnh địa tự do vĩnh cửu, hay miền Hạnh Phúc. Toàn bộ cách nhìn của các vị dựa vào uy lực đó.


Các vị đã theo nghe tôi từ ba năm nay rồi mà bây giờ cũng chẳng có thay đổi gì, ngoại trừ một ít. Nào hãy phân tích những điều tôi nói, hãy nghiêm túc để các vị có thể hiểu xuyên suốt trọng điểm. Khi các vị tìm kiếm uy lực để dẫn mình đến chốn tâm linh, dĩ nhiên các vị buộc phải tạo dựng một tổ chức quanh uy lực đó.


Chính hành động tạo dựng tổ chức mà các vị nghĩ rằng nó sẽ giúp uy lực này dẫn mình đến chốn tâm linh, khiến các vị bị nhốt trong một lồng giam.


Nếu tôi nói lời chân thành, xin hãy nhớ rằng tôi làm vậy không phải vì ác ý, không phải vì nhẫn tâm, cũng không phải vì nhiệt thành với mục đích của mình, mà bởi vì tôi muốn các vị hiểu những điều tôi đang nói. Đó là lý do tại sao các vị đến đây, và chỉ là hoang phí thời giờ nếu tôi không giải thích quan điểm của mình rõ ràng, dứt khoát.


Trong mười tám năm các vị đã được chuẩn bị để đón nhận biến cố này: Sự giáng thế của đấng Thế Sư. Trong mười tám năm các vị đã tổ chức, đã trông chờ ai đó ban cho tâm và trí các vị niềm vui sướng mới, ai đó sẽ chuyển hoá toàn bộ cuộc đời các vị, ai đó sẽ đem lại cho các vị sự hiểu biết mới, trông chờ ai đó sẽ nâng các vị lên một cấp độ mới của cuộc sống, ai đó sẽ ban cho các vị một sự khích lệ mới, ai đó sẽ cứu giúp các vị giải thoát - vậy mà bây giờ hãy xem điều gì đang xảy ra!


Hãy xem xét, hãy tự lý luận và tìm ra bằng cách nào mà niềm tin đó đã làm các vị khác đi – không phải sự khác biệt cạn cợt do được đeo huy hiệu của tổ chức mình, điều này quá tầm thường và ngớ ngẩn.


Nhân danh cái gì mà một niềm tin như vậy đã quét sạch mọi thứ vô ích trong cuộc sống? Đây là cách duy nhất để suy xét: Trong tư cách nào mà các vị tự do hơn, vĩ đại hơn, quyền uy hơn đối với mọi tổ chức dựa trên nền tảng giả dối và vô ích? Với tư cách nào mà các thành viên của Hội Ngôi Sao này trở nên khác biệt?


Như đã nói, các vị đã chuẩn bị mười tám năm cho tôi. Tôi không quan tâm các vị có tin rằng tôi là đấng Thế Sư hay không. Chuyện đó chẳng quan trọng gì cả. Bởi vì các vị theo Hội Ngôi Sao, các vị đã dâng hiến sự đồng tình của mình, năng lực của mình, công nhận một phần hay toàn triệt rằng Krishnamurti là đấng Thế Sư; toàn triệt đối với những người thực tâm tìm kiếm, chỉ một phần đối với những người thỏa mãn với những chân lý nửa vời của họ.


Các vị đã chuẩn bị trong mười tám năm, và hãy xem có biết bao khó khăn trong cách hiểu biết của các vị, biết bao nhiêu phức tạp, biết bao nhiêu thứ tầm phào.


Những thành kiến của các vị, những nỗi sợ hãi, những uy lực mà quý vị tuân phục, các nơi thờ phụng cũ mới của các vị - tôi khẳng định rằng tất cả những thứ này là rào cản đối với sự hiểu biết. Tôi không thể trình bày rõ ràng hơn nữa. Tôi không muốn các vị đồng ý với tôi. Tôi không muốn các vị theo tôi. Tôi chỉ muốn các vị hiểu được điều tôi nói.


Sự hiểu biết này là cần thiết, bởi vì niềm tin của các vị không chuyển hóa được các vị mà chỉ gây rắc rối thêm cho các vị, và bởi vì các vị không muốn đối mặt với sự thể như chúng đang hiện thể.


Các vị muốn có thượng đế của riêng mình – những thượng đế mới thay cho thượng đế cũ, tôn giáo mới thay cho tôn giáo cũ – cả thảy đều vô giá trị như nhau, đều là rào chắn, đều là giới hạn, đều là nạng chống.


Thay cho sự trội vượt trong điều thiêng liêng cũ, các vị tìm sự trội vượt trong điều thiêng liêng mới; thay cho sự thờ phụng cũ, các vị tìm sự thờ phụng mới.


Tất cả các vị đều đặt tâm ý của mình vào người khác, đặt hạnh phúc của mình vào người khác, đặt sự giác ngộ của mình vào người khác; và mặc dù các vị đã chuẩn bị cho tôi trong suốt mười tám năm, khi tôi nói rằng mọi thứ này đều không cần thiết, khi tôi nói rằng các vị phải dẹp các thứ này đi và phải nhìn vào bên trong chính mình để thấy được sự giải ngộ, thấy được hạnh phúc tối thượng, thấy được sự thanh khiết, không băng hoại của bản thân mình, chẳng có người nào trong các vị muốn làm điều đó. Có thể vài người, nhưng hết sức ít ỏi.


Thế thì cần gì có tổ chức?


Tại sao có những người dối trá, giả nhân giả nghĩa theo tôi, theo hiện thân của Chân Lý? Xin hãy nhớ rằng tôi không nói điều gì thô lỗ và bất nhã, nhưng chúng ta đã đến tình trạng phải đối mặt với sự thể như chúng hiện thể.


Năm trước tôi nói rằng tôi sẽ không thỏa hiệp nữa, lúc đó rất ít người chịu nghe tôi. Năm nay tôi nói điều này hết sức rõ ràng.


Tôi không biết có bao nhiêu ngàn hội viên trên khắp thế giới đã chuẩn bị đón tôi trong mười tám năm qua, vậy mà giờ đây chắc họ cũng không muốn lắng nghe một cách công tâm, toàn triệt, những gì tôi nói.


Thế thì cần gì có tổ chức?


Như tôi đã nói khi nãy, mục đích của tôi là giúp cho con người tự do toàn triệt, vì tôi khẳng định điều thiêng liêng duy nhất mang tính vĩnh cửu là bản thân mình không bị băng hoại, là sự hài hòa giữa lý trí và tình yêu. Đây là Chân Lý tuyệt đối, toàn triệt, và đó chính là cuộc sống.


Do đó, tôi muốn giải thoát cho con người, lòng vui như chim trên bầu trời trong vắt, thanh thoát, không ràng buộc, hân hoan với sự tự do đó. Và tôi, là người mà các vị đã chuẩn bị trong suốt mười tám năm, giờ đây nói với các vị rằng các vị phải thoát khỏi các chuyện này, thoát khỏi mọi phức tạp, mọi vướng mắc của các vị.


Để làm điều này, các vị không cần đến một tổ chức dựa trên niềm tin thiêng liêng. Sao lại cần một tổ chức trên đời cho năm hay mười người hiểu biết, những người đang cố gắng, người đã dẹp một bên mọi thứ tầm thường?


Dù đối với những người yếu đuối, cũng không có tổ chức nào giúp đỡ họ tìm ra Chân Lý được, bởi vì Chân lý nằm trong mỗi người; nó không xa, nó không gần; nó ở đó muôn đời.


Các tổ chức không giải thoát được cho chúng ta. Chẳng có ai bên ngoài có thể giải thoát cho chúng ta; cũng chẳng có sự thờ phụng được sắp sẵn nào, chẳng có sự hiến mình cho chính nghĩa hay vùi đầu vào công tác nào có thể giải thoát cho chúng ta.


Chúng ta dùng máy đánh chữ để viết thư, nhưng chúng ta không đặt nó lên bàn thờ để thờ phượng. Vậy mà đó là điều chúng ta làm khi các tổ chức tôn giáo trở thành mối quan tâm chính của chúng ta.


“Có bao nhiêu hội viên trong Hội?” Đó là câu đầu tiên tôi được hỏi bởi tất cả các nhà báo.


“Có bao nhiêu người theo ngài?” Qua con số hội viên chúng tôi sẽ biết điều ngài nói đúng hay sai.”


Tôi chẳng biết có bao nhiêu người nữa. Tôi chẳng quan tâm chuyện đó. Như tôi đã nói, nếu chỉ có một người giải thoát thôi, vậy cũng đủ rồi.


Thêm nữa, chúng ta có ý nghĩ rằng ai đó có thẩm quyền nắm giữ chìa khóa vào Miền Hạnh Phúc. Không có ai giữ nó cả và chẳng ai có quyền giữ nó cả. Chìa khóa đó là tự bản thân mình, và chỉ khi bản thân mình phát triển, thanh khiết, và không băng hoại, thì đó mới là Miền Vĩnh Cửu.


Vì thế các vị sẽ thấy toàn bộ cơ cấu mà các vị đã xây dựng thật là ngớ ngẩn, như tìm kiếm sự giúp đỡ từ bên ngoài, lệ thuộc vào người khác để có sự an ủi, hạnh phúc, sức mạnh cho chính mình. Các thứ này chỉ tìm thấy bên trong chính mình.


Thế thì cần gì có tổ chức?


Chúng ta đã quen được bảo ban mình đã tiến bộ đến đâu, trạng thái tâm linh của mình ở mức nào. Thật là trẻ con quá! Ngoài các vị ra ai có thể bảo cho các vị biết bên trong các vị đẹp hay xấu? Ngoài các vị ra ai có thể bảo cho các vị biết các vị không bị băng hoại? Các vị không nghiêm túc trong chuyện này rồi.


Thế thì cần gì có tổ chức?


Nhưng đối với những người thật sự mong muốn hiểu biết, những người đang tìm kiếm sự vĩnh cửu không có bắt đầu và không có chấm dứt, sẽ đi cùng nhau với quyết tâm lớn hơn, sẽ là một mối nguy đối với mọi thứ vô ích, hão huyền, đối với bóng tối. Và họ sẽ tập trung lại, họ sẽ trở thành ngọn lửa, bởi vì họ hiểu biết.


Một bộ phận như thế cần phải có, và đó là mục đích của tôi. Bởi vì khi có sự hiểu biết chân thực sẽ có tình bằng hữu chân thực. Bởi vì có tình bằng hữu chân thực – là điều mà hình như các vị không biết - sẽ có sự hợp tác chân thực của mỗi người.


Và điều này có được không phải nhờ uy lực, không phải nhờ sự cứu rỗi, cũng không phải nhờ sự hiến mình cho chính nghĩa, nhưng nhờ chúng ta hiểu biết, và do đó có thể sống trong vĩnh cửu. Đây là việc còn to lớn hơn mọi lạc thú, mọi hy sinh.


Đó là vài lý do tại sao tôi đưa ra quyết định này, không phải do sự xúc động nhất thời, vì đã suy xét cẩn thận trong hai năm. Tôi không bị ai thuyết phục cả, chẳng ai thuyết phục được tôi trong những chuyện như vậy.


Trong hai năm tôi đã suy nghĩ về điều này, chậm rãi, cẩn thận, kiên nhẫn, và giờ đây tôi quyết định giải tán Hội Ngôi Sao mà tôi ngẫu nhiên là người lãnh đạo. Các vị có thể tạo dựng các tổ chức khác và trông chờ vào người khác.


Tôi chẳng quan tâm đến điều đó, cũng chẳng quan tâm đến việc tạo ra các lồng giam mới, những nét tô vẽ mới cho các lồng giam ấy. Điều duy nhất tôi quan tâm là giải thoát cho con người một cách tuyệt đối và toàn triệt.