Tuesday, June 6, 2023

C49: Du Hồn Nhập Mộng

Vô Thường Mộng Cảnh.

Nhân sinh thai hạ nhân gian, thực chỉ là Du Hồn Nhập Mộng! 


Trong chốn Bể Đời mỗi mỗi sinh mệnh, đều là từ Cõi Chơn Linh - Phòng Chơi Game Tiến Hóa ngay sát ngoài Phạm Vi Tam Giới, đã tự chọn Mộng Cảnh phù hợp mà Nhập Hạ, Xuất Linh nương theo Ngũ Uẩn, Viễn Du đi vào Cõi Hậu Thiên Tam Giới Đại Hí Trường. 


Trải qua trường miên mộng cảnh trôi lăn, khi tích lũy kinh nghiệm Du Hồn đạt đến một mức nào đó theo quy định của Cơ tiến hóa, sẽ lại Tự Nhiên mà từ ngay trong Cảnh Mộng Viễn Du, lóe lên Ánh Sáng Tỉnh Thức... 


Ví như Hạt Giống bất kỳ, muốn nảy mầm thì phải hội đủ điều kiện  thì mới được. Rồi sinh trưởng, rồi ra hoa, kết quả, lại cho ra Hạt Giống thế hệ tiếp theo, Hạt lại nảy mầm, sinh trưởng... Tất cả là quá trình tương tục tiếp nối, hóa chuyển, diễn sinh không ngừng nghỉ! 


Có nhiều cách chia về Bậc Học và cho dù là cách chia thế nào, cũng đều hướng về mục tiêu chung, Thành Toàn cho Tiến Hóa Viên Dung. Ở đây, tạm lấy cách chia theo 05 bậc - Ngũ Thừa để diễn tả. Ngũ Thừa Phương Tiện là 05 phương tiện phù hợp tương ứng với 05 cấp độ tiến hóa của Chư Sinh. Mỗi cấp độ lại tiếp tục được chia nhỏ ra từng lớp, rồi từng môn học, ngành học... để tiện bề hơn trong sự học hành tiến lên Toàn Thiện, Đại Toàn Thiện... của Linh Hồn. 


Bí ẩn Sinh Mệnh Tiến Hóa...

Là bất khả tư nghì!


Xuyên không lịch kiếp du hành từ vũ trụ này sang vũ trụ kia, thời đại này qua thời đại nọ, nghìn năm này sang vạn năm khác, ai ai cũng không thể nào mà ghi nhớ hết nổi những gì đã xảy ra. Nếu có siêu máy tính nào với dung lượng bộ nhớ khủng chống tràn, thì có lẽ cũng phải mất ngần ấy thời gian tua lại, mới nhớ ra hết.


Vậy mà hay ở chỗ là, chẳng cần “nhớ” gì cũng vẫn được tiến hoá không ngừng. Chẳng cần ghi nhớ bất cứ một điều gì, mà Sáng Tạo - Bảo Tồn - Huỷ Diệt vẫn cứ không ngừng đồng bộ, nhịp nhàng thoi đưa, những du hồn nhập mộng Trường Tình. 


Vĩnh Hằng vĩnh viễn là khát vọng thẳm sâu trong cõi bình yên tuyệt đối chân thường. 


Tình Yêu Vĩnh Hằng, là điều mà bất cứ ai đều sẵn có, chính là.


"Vô Thường Mộng Cảnh.

Nhân sinh thai hạ nhân gian, thực chỉ là Du Hồn Nhập Mộng!"


Cõi thực trong siêu thực, siêu thế huyền sinh, không hề mộng mị là nơi chỉ có những linh thể trưởng thành, hoàn thành bài học - nhiệm vụ, mới có thể nhận thức, trở về. Cõi thực ấy luôn có Tình Yêu Chân Chính Vĩnh Hằng, Toàn Vẹn, Không Hai. Ấy là thứ Tình Yêu Duy Nhất mà một con người nên ước vọng, hướng tới. 


Có những người luôn mơ về Nơi Xa Xăm ấy, cũng có những người vì đã không còn lẽ sống với Vô Thường, nên thường chìm trong thế giới của tinh thần, tìm thấy trong giấc ngủ sự bình an miên viễn. Ấy nhưng cái sự không còn khao khát gì về thực tại giả cảnh lại chẳng phải là đích đến cuối cùng của trưởng thành toàn vẹn. Dẫu hai chữ "trưởng thành" cũng khó cắt nghĩa sao cho đủ. Rồi, ta lại mơ về Tình Yêu mà không thực SỐNG cho TÌNH YÊU ấy, sống TRỌN VẸN đời đời cho TÌNH YÊU Y MỘT. Đáng thương làm sao, những kẻ yêu lưng chừng, bội bạc.


Nếu Yêu là lẽ sống, có câu nói rất hay như thế này: "Love me little, love me long" (Yêu ít thôi, nhưng yêu dài lâu)

Chẳng có thứ tình chân thật nào mà trồi - sụt, tăng - giảm, còn - hết, có - không. Tình Yêu Chân Thực luôn là liên viễn, lâu dài, và mãi mãi. Vậy làm sao ta là TÌNH YÊU THAI HẠ, TÌNH THƯƠNG BẤT BIẾN, TÌNH VÔ ĐIỀU KIỆN - VÔ BIÊN, trong khi xác thân hồng trần u mê mãi mải nghe theo, dua theo, vâng theo, tuân theo những lề lối thường tục. 


Nếu Thời Gian kiếp này là hạn định, sao ta chẳng dậy sớm và ngủ khuya để Yêu thêm nhiều nữa. Để hiểu thêm nhiều nữa ... Hằng Thường Thiêng Liêng. 


Nếu Đức Tin là bất diệt, liệu có thể kiên định đợi chờ, kiên trì đơn phương, âm thầm vững dạ, tin vào TÌNH YÊU BẤT DIỆT ấy? 


Này những kẻ mộng mê, yếu đuối, hãy trỗi dậy và tỉnh thức trong Cuộc Tình Bất Diệt, để Lửa Thiêng tẩy sạch tạp niệm trong con người, để Ta và Ngài, mãi chẳng chia xa.


- - -

A. NĂM THỪA, HAY NĂM NẤC THANG


Giáo lý của Phật tuy nhiều đến thiên kinh, vạn quyển, pháp môn của Phật tuy có đến tám muôn bốn ngàn loại, chung quy cũng không ngoài năm thừa, hay năm nấc thang chính để tiến tới địa vị Phật.


Năm nấc thang này, đối với những căn cơ chậm lụt thời cứ tuần tự mà bước, hết nấc này đến nấc khác. Còn đối với những căn cơ thông lợi thì có thể bước hai ba nấc một lần cũng được. Mỗi nấc đều có những phương pháp tu hành riêng biệt và quả vị khác nhau. Nấc thấp thì phương pháp tu hành dễ dàng, giản dị, và quả vị cũng tầm thường. Càng lên cao thì việc tu luyện mất nhiều công phu hơn, và do đó, quả vị cũng cao xa hơn. Nhưng dù cao, dù thấp, dù nhanh, dù chậm, quả vị cuối cùng cũng là Phật quả. Do đó, mà Đức Phật bảo đảm một cách chắc chắn rằng : “Ta là Phật đã thành, các người là Phật sẽ thành”. Người tu hành luôn luôn nên nhớ câu nói ấy, để vững tâm tiến bước trên đường đạo.


Trước tiên hãy nói đến nấc thang thứ nhất, hay là :


I. CON ĐƯỜNG TU CỦA NHÂN THỪA


Con đường này, tương đối dễ dàng nhất trong các con đường tu hành; do đó quả vị cũng không vượt quá cõi người. Phương tiện tu hành để được sống trong cõi người là “Ngũ giới”. Ngũ giới tức là năm điều ngăn cấm mà người tu hành, sau khi thọ giới xong, cần phải triệt để tuân theo.


1. Giới thứ nhất là không sát sanh : Nếu giữ giới này một cách triệt để thì hành giả không được sát hại một sinh vật nào, dù nhỏ bao nhiêu. Nếu chưa có thể giữ được một cách triệt để, thì ít nhất cũng không được giết người, hay các sinh vật mà mình thấy không cần thiết phải giết. Muốn cho sự giữ giới này được thi hành một cách không quá khó khăn, hành giả nên luôn luôn nghĩ đến đức tánh “Từ bi” thương xót tất cả chúng sanh, tự đặt mình vào địa vị của những sinh vật sắp bị giết, để thấy những khổ đau của chúng. Riêng đối với người, riêng đối với người, hành giả không bao giờ nên nuôi cái ý niệm sát hại, dù đó là kẻ thù của mình đi nữa.


Nếu cõi đời này mà những hành vi giết hại không hiện ra nữa, thì những nỗi khổ đau, những dòng lệ và tiếng kêu thương sẽ được giảm đi rất nhiều vậy.


2. Giới thứ hai là không tham lam trộm cắp : Sau thân mạng là tiền, tài sản. Người ta thường nói : “đồng tiền là quyết mạch”. Do đó mà khi mất tiền của, người ta thấy khổ đau vô cùng. Có nhiều người đã phát điên khùng, có nhiều người đã tự tử vì tiếc của. Nói như thế để nhận thấy cái giá trị, cái mãnh lực của đồng tiền, đối với đại đa số người đời. Cho nên người giữ giới, phải triệt để loại tánh tham lam ra khỏi lòng mình. Về tánh tham vừa làm khổ cho mình, vừa làm khổ cho người. Người mất của đã khổ, mà người đêm ngày toan tính để cướp của, trộm cắp, lừa gạt của người cũng không tìm được một cuộc đời an vui. Vả lại, của phi nghĩa không thể bền lâu được. Tục ngữ có câu : “của đánh bạc để ngoài sân, của phù vân để ngoài ngõ”. Luật nhân quả không bao giờ sai chạy : mình lấy của người, thì người khác lấy của mình, cái vòng lẩn quẩn không bao giờ dứt. Do đó mà Phật cấm ngặt không được trộm cắp, dù vật nhỏ nhặt bao nhiêu.


3. Giới thứ ba là không tà dâm : Sự dâm dật làm đảo lộn luân thường, đạo lý, làm rối loạn gia cang. Người đã mê sắc dục, khó có thể thành công trên đường đời, vì những mưu toan, những ý nghĩ đen tối cứ khuấy rối tâm hồn, không bao giờ để cho người trong cuộc, có thì giờ làm những công việc hữu ích, đẹp đẽ hơn. Trong báo chí hàng ngày, những tin tức về những cuộc đâm chém, bắn giết nhau vì ghen tương không thể kể xiết. Một gia đình, trong ấy người vợ cũng như người chồng, có một đời sống đàng hoàng, trong sạch, sẽ được người chung quanh kính nể, và gia đình được êm ấm hòa vui; còn trái lại, thì gia đình là một địa ngục trần gian.


4. Giới thứ tư là không nói dối : Nói dối tức là có ý làm sai lạc sự thật vì tư lợi, tư thù, hay khoe khoang, kiêu mạn, nghĩa là vì những dục vọng riêng tư không đẹp đẽ. Cho nên nói dối tức là dùng một cái bình phong giả dối để che đậy một sự thật, không được tốt đẹp. Sự nói dối, bởi lẽ ấy, là một sự khuyến khích người ta đi sâu vào dục vọng, làm cho người ta tiếp tục làm quấy mà không sợ trừng phạt, vì nghĩ rằng tội lỗi của mình sẽ được che giấu. Trong một gia đình, nếu những người thân thuộc dối trá nhau, thì khó có thể giữ được lòng tin yêu, yếu tố căn bản của hạnh phúc gia đình. Trong xã hội nếu mọi người xử dụng sự dối trá với nhau, thì xã hội dễ bị tan rã, vì thiếu sự tín nhiệm, yếu tố căn bản của mọi sự hợp tác trong cuộc sống chung.


5. Giới thứ năm là không uống rượu : Uống rượu, riêng nó không phải là một cái tội. Nhưng tai hại là ở hậu quả, ở ảnh hưởng của rượu đối với người uống. Rượu làm cho lý trí bị rối loạn, con người không tự làm chủ được mình nữa. Người nghiện rượu không thể có được trí huệ sáng suốt, mà trí huệ, đối với đạo Phật là một yếu tố căn bản để đạt đến Phật quả. Rượu làm cho người vốn đã si mê, lại càng si mê thêm. Rượu làm cho xã hội, vốn đã rối loạn, càng rối loạn thêm. Do đó, mà Đức Phật cấm uống rượu, để cho con người được tỉnh táo mà tu hành, xã hội bớt được nhiều kẻ điên cuồng, náo loạn.


Năm giới này, nếu người tu hành không phạm đến, đời sau sẽ được sanh làm người; do đó mà con đường tu hành này, có tên là “Nhân thừa”. Nhưng chưa nói đến tương lai vội, ngay trong hiện tại, nếu người đời tuân theo năm điều răn dạy này, thì cõi người mới xứng đáng với cái danh hiệu ấy, con người mới xứng đáng được gọi là “Người”. Còn nếu không, thì cõi đời này là địa ngục và con người chỉ có cái tên, cái lốt mà thôi.


II. CON ĐƯỜNG TU CỦA THIÊN THỪA


Thiên thừa tức là con đường đưa đến cõi Trời. Cõi Trời theo nghĩa đạo Phật, không phải là cõi của đức Chúa Trời, hay Thượng Đế. Cõi Trời là cõi cao hơn, tương đối sung sướng, trong sạch hơn cõi người. Nhưng sống trong cõi này, cũng chưa phải là vĩnh viễn, tự tại giải thoát, mà còn bị luật nhân quả luân hồi và luật vô thường chi phối. Tuy thế, tiến từ cõi Người lên cõi Trời cũng là một sự tiến bộ, mà nhiều người mong ước.


Muốn được sanh vào cõi này, hành giả phải tu theo Thập thiện. Thập thiện là 10 điều lành sau đây :


1. Không tham lam : Tham lam là nguồn gốc của mọi sự khổ đau. Vì tham mà sanh giận, vì tham mà thành si mê, vì tham mà sát sanh, vì tham mà trộm cắp, vì tham mà dâm dật, vì tham mà nói dối, nói lời ác độc, nói hai lưỡi, nói thêm bớt thêu dệt. Trừ được tham là trừ được một phần lớn những hành vi, ngôn ngữ, ý nghĩ xấu xa. Người có nhiều tham dục, chắc chắn không bao giờ thấy được hạnh phúc trong cõi đời này, chứ chưa nói đến thấy được cõi Trời.


2. Không hờn giận : Người ta thường nói : “giận mất khôn”. Thật vậy, người giận dữ là người điên cuồng, không biết đâu là phải, đâu là trái, đâu là hay, đâu là dở. Sự giận hờn không chỉ gây tai hại cho người, mà còn gây tai hại rất lớn cho mình. Người giận dữ chẳng khác gì đang ôm ấp một lò than đỏ, đang tự thiêu đốt mình.


3. Không si mê : Đạo Phật là một đạo giác ngộ, lấy trí huệ làm phương tiện giải thoát, cho nên còn say đắm, si mê mà muốn được giải thoát, thì chẳng khác gì người bộ hành muốn đi về phương tây, mà cứ nhằm phương đông bước tới.


4. Không sát sanh.


5. Không trộm cướp.


6. Không tà dâm.


7. Không nói dối.


Bốn giới này đã nói ở phần ngũ giới, xin không nhắc lại nữa.


8. Không nói lời hung ác : Ta có câu ca dao : “Lời nói không mất tiền mua; lựa lời mà nói cho vừa long nhau”.


Thật vậy, lời nói êm dịu không cần phải mua kiếm khó khăn mới được, mà chỉ cần chú ý một chút, giữ gìn một chút là được. Thế mà trong xã hội này, người ta đã sử dụng quá nhiều những lời hung ác, chửi rủa, lăng mạ, phỉ báng làm cho xã hội thật là ngạt thở, và xem nhau như những kẻ thù nghịch. Thật là đáng tiếc, đáng buồn, đáng tủi nhục.


9. Không nói lời hai lưỡi : (lưỡng thiệt). Ai cũng biết con người chỉ có một cái lưỡi, nhưng vì cách sử dụng mỗi khi mỗi khác, đến đây nói thế này, đến kia nói trái lại, nên người ta có cảm tưởng như người có hai lưỡi, ba lưỡi, nhiều lưỡi không biết đâu mà kể cho xiết. Thật đúng như câu chuyện ngụ ngôn của Esope : cũng một cái lưỡi mà khi tốt thì không gì tốt bằng, mà khi xấu thì cũng không gì xấu hơn. Với cách sử dụng miệng lưỡi như thế, chắc chắn xã hội loài người sẽ trở thành xã hội không phải loài người, chỉ lừa đảo phỉnh phờ lẫn nhau, không ai còn tin ai hiểu ai nữa.


10. Không nói thêu dệt : (ỷ ngữ). Nói thêu dệt, ở đây có nghĩa là nói thêm bớt, “ít mà xít cho nhiều”, mà mục đích là nịnh bợ ton hót để kiếm lợi riêng.


Để đối trị với mười tánh xấu này, trong kinh Thập thiện Phật dạy đệ tử phải trau dồi 10 đức tính sau đây :


1) Không sát hại các loài vaatjl, mà phải phóng sanh;


2) Không theo tà hạnh, mà phải tu phạm hạnh (hạnh trinh chánh);


3) Không trộm cướp, mà phải bố thí;


4) Không nói dối, mà phải nói lời thành thật;


5) Không nói thêu dệt, mà phải nói lời đúng đắn;


6) Không nói hai lưỡi, mà phải nói lời hòa nhã;


7) Không nói lời hung ác, mà phải nói lời dịu dàng;


😎 Không tham dục, mà phải quán bất tịnh;


9) Không giận dữ, mà phải quán từ bi;


10) Không si mê, mà phải quán nhân duyên.


Mười điều thiện này là căn bản để tiến dần đến sự giải thoát, cho nên trong kinh Thập thiện, Phật có dạy :


“Này Long Vương ! ví như cõi đất lớn, tất cả thành, ấp, làng, xóm, đều nương nơi cõi đất ấy mà được an trụ, tất cả cỏ cây đều nương nơi cõi đất ấy mà được sanh trưởng.


Mười nghiệp lành này cũng như vậy; tất cả nhơn thiên đều nương nơi mười nghiệp lành này mà an lập, tất cả giác ngộ của Thanh văn, Duyên giác, tất cả Bồ tát hạnh và Phật pháp đều nương nơi mười nghiệp lành này mà được thành tựu, nên các người phải tu học”.


III. CON ĐƯỜNG TU CỦA THANH VĂN THỪA


Hai con đường nói ở trên, Nhân thừa và Thiên thừa, chỉ là những con đường ngắn ngủi dành cho những người sơ cơ, tầm thường : con đường thứ nhất, ngăn đón chúng ta khỏi rơi vào các thế giới đen tối (địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh), đưa chúng ta trở lại cõi Người trong kiếp sau; còn con đường thứ hai đưa ta đi xa hơn, đến cõi Trời, sung sướng, trong sạch hơn, nhưng ở đấy, nếu không tiếp tục tu hành, thì sau khi hưởng hết quả báo tốt, lại rơi xuống cõi người.


Bởi thế, hành giả cần nên bước trên một con đường dẫn dắt đi xa hơn, rộng hơn hai con đường trước, đó là con đường của Thanh Văn, nghĩa là con đường đưa hành giả đến bốn quả vị Thanh Văn.


Muốn đến quả vị này, phải tu theo pháp Tứ Diệu Đế. Tứ Diệu Đế là bốn sự thật rõ ràng, hiển nhiên, đúng đắn không gì hơn.


Sự thật thứ nhất Khổ đế : Cõi đời là đau khổ. Dù cho danh vọng, giàu có, tài trí bao nhiêu cũng không thoát khỏi những cảnh đau khổ, già, chết, những cảnh khổ : thân yêu mà phải chia lìa, ghét bỏ mà phải sống bên nhau. Tóm lại, cõi đời là cõi khổ, mà không một ai thoát khỏi.


2. Sự thật thứ hai Tập đế : Những nỗi đau khổ nói trên, do từ lâu đời lâu kiếp kết hợp lại. Nghĩa là những quả khổ trong hiện tại, đều có nguyên nhân sâu xa trong quá khứ, chứ không phải bỗng nhiên mà có, hay do ai tạo ra. Nguyên nhân của mọi thứ phiền não khổ đau, chính là những “kiết sử”. Kiết là cột chặt, Sử là sai khiến, điều khiển. Các thứ cột chặt chúng sanh vào vòng sanh tử, sai khiến chúng ta hành động, chính là mười món sau đây :


1/Tham, 2/Sân, 3/Si, 4/Mạn, 5/Nghi, 6/Thân kiến (chấp đắm thân này là chân thật), 7/Biên kiến (cố chấp sai lạc), 8/Tà kiến (quan niệm không hợp chánh lý), 9/Kiến thủ (bảo thủ kiến giải của mình), 10/Giới cấm thủ (tin tưởng và thực hành những giới điều sai lầm).


Trong mười món kiết sử này, năm món đầu thì gọi là độn sử, nghĩa là những món phiền não sâu kín, tánh chất nặng nề; còn năm món sau gọi là lợi sử, nghĩa là những món phiền não có tính chất lanh lợi, thuộc về nhận thức. Năm món trên vì ăn sâu gốc rễ, nên khó trừ hơn năm món dưới.


3. Sự thật thứ ba Diệt đế : Diệt nghĩa là tiêu diệt. Diệt đế là chân lý nói về trạng thái thanh tịnh tự tại, giải thoát sau khi các phiền não đã bị tiêu diệt. Trạng thái này gọi là Niết Bàn. Niết (Nir) nghĩa là rơi rụng, không còn nữa, hay thoát khỏi; Bàn (Vana) nghĩa là mọc lên lăn xăn, lộn xộn, Niết Bàn là trạng thái xa lìa những lăn xăn, phiền não, luôn luôn an trú trong cảnh vắng lặng thường còn. Niết Bàn có ba tánh chất sau đây :


a/Bất sanh : không mọc lên, không sanh lại;


b/Tịnh diệt : thanh tịnh, vắng lặng;


c/Giải thoát : không còn bị trói buộc trong rừng mê, bể khổ hoàn toàn tự tại.


Niết Bàn tức là quả vị chứng được của các vị Thanh văn, sau nhiều năm tu luyện. Quả vị này có bốn từng bực, từ thấp đến cao :


a/Tu đà hoàn hay Dự lưu : nghĩa là đã nhập vào dòng Thánh.


b/Tư đà hàm hay Nhứt lai : nghĩa là chỉ còn một lần trở lại sanh vào Dục giới nữa thôi.


c/A na hàm hay Bất lai : nghĩa là không còn trở lại Dục giới nữa.


d/A la hán hay Bất sanh : nghĩa là không còn sanh tử trong ba giới và an trú vào cảnh vô dư y Niết bàn của Tiểu Thừa.


4. Sự thật thứ tư Đạo đế : Đạo là con đường. Đạo đế tức là con đường, là phương pháp dẫn đến quả vị Niết Bàn. Nói một cách khác, đây là những pháp môn tu hành của hàng Thanh Văn. Pháp môn này gồm tất cả là 37 món, trong ấy có “Bát chánh đạo”, thường được coi là pháp môn quan trọng nhất.


Bát Chánh Đạo gồm có :


a/Chánh tri kiến : kiến giải đúng sự thật.


b/Chánh tư duy : suy nghĩ chân chánh.


c/Chánh ngữ : lời nói ôn hòa chánh đáng.


d/Chánh nghiệp : hành động chân chánh.


đ/Chánh mạn : đời sống chân chánh.


e/Chánh tin tấn : siêng năng tu hành để tiến triển trên đường đạo.


g/Chánh niệm : nhớ tưởng những việc chân chánh.


h/Chánh định : tập trung tư tưởng vào những vấn đề chân chính, để trí huệ được phát chiếu.


Ngoài “Bát chánh đạo”, còn những món trợ đạo khác để giúp hành giả tiến triển trên đường Đạo như : Tứ chánh cần, tứ như ý túc, ngũ căn, ngũ lực v.v…


IV. CON ĐƯỜNG TU CỦA DUYÊN GIÁC THỪA


Con đường tu này lấy pháp môn “mười hai nhân duyên” làm phương tiện tu hành. Con đường này đi xa hơn Thanh văn thừa, và do đó, quả vị chứng được cũng cao hơn. Hành giả đi hết con đường này, đến tuyệt đích tức là đến quả vị Bích chi Phật, quả vị giác ngộ cao nhất của Tiểu Thừa.


“Mười hai nhân duyên” là một pháp môn chỉ bày cho người tu hành thấy rõ được nguyên nhân của sự sinh tử luân hồi của chúng sanh để mà dứt trừ. Mười hai nhân duyên được trình bày, như là một cái vòng lẩn quẩn, gồm có 12 giai đoạn nối tiếp theo nhau và giam giữ chúng sanh trong biển khổ trần gian.


Mười hai nhân duyên là :


1. Vô minh : Nghĩa là mê lầm, không hiểu rõ được bản chất của sự vật và tâm mình, lấy giả làm thật, lấy quấy làm phải. Thí dụ : thân ta là vô thường mà cho là thường; tâm ta là vô ngã mà cho là tự tại. Vô minh được hình dung như một tấm vải đen, che mắt người bộ hành, làm cho người bộ hành đi lạc và rơi vào hố sâu tăm tối.


2. Hành : Là hành động, gây tạo ra những việc bất thiện, sai lầm, tạo nghiệp.


3. Thức : Là vọng thức phân biệt, chấp trước có năng và sở, nội tâm và ngoại cảnh riêng biệt. Do sự chấp trước này nên sanh lòng bảo thủ cái ta, tìm cầu một thân mạng, để phát triển cái ta ấy.


4. Danh sắc : Danh là chỉ cho phương diện tinh thần, Sắc là chỉ cho phương diện vật chất. Danh sắc tức là chỉ tổng báo, thân của loài hữu tình, khi còn ở trong thai tạng.


5. Lục nhập : Lục nhập tức là sáu giác quan (mắt, tai, mũi, thân, ý) của cái thai, dần dần được thành hình và phát triển, để sửa soạn tiếp xúc với ngoại cảnh, khi ra đời.


6. Xúc : Là xúc chạm, tiếp xúc với ngoại cảnh. Đây là nói khi cái thai thoát khỏi bào thai và tiếp xúc với ngoại cảnh. Trong giai đoạn này, các giác quan của hài nhi còn thô thiển, chưa bén nhậy, tinh vi, nên chỉ có “tiếp xúc” mà thôi.


7. Thọ : Là nhận lãnh. Đây là giai đoạn khi đứa bé đã bắt đầu có lý trí, biết phân biệt vui và khổ, thấy vui trước những cảnh vừa lòng, buồn trước những cảnh trái ý.


8. Ái : Là tham ái. Khi đã biết vui buồn, thương ghét, thì tất nhiên sẽ sanh lòng tham ái, đắm trước đối với những gì tốt đẹp, thích thú, và ruồng bỏ những gì xấu xa, nhàm chán.


9. Thủ : Là nắm giữ lấy. Khi đã ưa thích những gì tốt đẹp, quý báu thì sẽ sanh lòng giữ gìn những thứ ấy. Cái mà chúng sanh quý nhất là thân mạng.


10. Hữu : Là có. Ở đây muốn nói do lòng tham ái, và ý muốn giữ gìn (thủ) mà tạo ra thân hậu hữu, tiếp nối cuộc đời sau.


11. Sanh : Là sanh mạng, là khởi đầu một cuộc sống khác.


12. Lão tử : Là già và chết. Khi đã có sống, tất phải có già và chết.


Trong 12 giai đoạn nối tiếp cuộc sanh tử luân hồi này, nếu đem phân tích theo thứ tự thời gian trong ba đời (quá khứ, hiện tại và tương lai) thì sẽ thấy như sau :


Vô minh và hành là thuộc nghiệp nhân quá khứ, nghĩa là hai món này làm nhân trong quá khứ để kết thành quả báo trong hiện tại là : thức, danh sắc, lục nhập, xúc và thọ.


Còn ái, thủ và hữu là nghiệp nhân trong hiện tại để tạo những quả báo trong tương lai là : sanh và lão tử.


Như thế, chúng ta thấy mười hai nhâ duyên này nối tiếp chặt chẽ, làm nhân quả, từ quá khứ đến hiện tại, từ hiện tại đến tương lai không một lúc nào gián đoạn.


Hành giả tu theo pháp môn này, trước tiên phải quán sát cho rõ ràng hành tướng của mười hai nhân duyên này; khi đã thấu rõ tường tận hành tướng của mỗi nhóm, hành giả phải tìm một nhược điểm nào trong vòng dây mười hai nhân duyên ấy, để cắt đứt nó ra, không cho nó tiếp tục làm nhân làm quả nữa.


Nhược điểm trong vòng dây ấy, là “Ái” (tham ái, đắm mê). Vậy hành giả phải nhắm đối tượng là “ái”, để tấn công vào, như ông tướng hành quân, sau khi dò la mặt trận của địch, biết được chỗ yếu, liền đổ dồn lực lượng tấn công vào đấy. Muốn tiêu diệt được “ái”, hành giả phải luôn luôn tự kiểm soát lòng mình, không để cho nó say mê, đắm trước vào những sắc tướng, giả ảnh bên ngoài. Một khi đã kiềm chế, tiêu diệt được “ái” rồi, thì nguyên nhân của “thủ” không có nữa. Thủ đã không có thì “hữu” cũng không thể do đâu mà phát sinh. Hữu không có, thì “sanh”, “lão tử” cũng không xuất hiện được.


Các vị Duyên giác sau khi đã đoạn trừ những nghiệp nhân lậu, chấm dứt được vòng lẩn quẩn sanh tử luân hồi, sẽ chứng được quả vị Bích chi Phật là quả vị cao nhất của Tiểu Thừa.


V. CON ĐƯỜNG TU CỦA BỒ TÁT THỪA


Đây là con đường rộng rãi, xa xăm nhất trong năm con đường hướng đến cõi Phật. Chỉ những người căn cơ vững chắc, chí nguyện lớn lao, ý chí dũng mãnh mới dám dấn bước trên con đường vạn dặm này. Cho nên những người nào muốn đi trên con đường này, trước tiên phải tự lượng sức mình, xem thường mọi sự gian khổ trên đời này, xem thường tài sản và tính mạng; phải có một quan niệm rộng lớn : cho rằng mình và chúng sanh không khác, chúng sanh đau khổ là mình đau khổ, mình sung sướng thì cũng phải làm cho chúng sanh sung sướng như mình, và nhất là phải phát Bồ đề tâm, nghĩa là phát tâm rộng lớn vô cùng tận, mà nội dung, gồm trong bốn lời khuyên sau đây :


1/Chúng sanh không số lượng, thệ nguyện đều độ hết. – Chúng sanh tức là tất cả loài hữu tình, có sự sống trên thế giới này. Số lượng của chúng sanh nhiều như cát sông Hằng, không thể đếm được. Chúng sanh lại gồm rất nhiều chủng loại, mỗi chủng loại lại gồm nhiều căn cơ, nhiều nghiệp duyên, nhiều hoàn cảnh khác nhau. Nhưng mặc dù chúng sanh số lượng nhiều không thể kể xiết và tánh chất phức tạp như thế, người theo hạnh Bồ tát thừa cũng nguyện độ cho tất cả.


2/Phiền não không tận, thệ nguyện đều dứt sạch. – Từ vô thỉ đến nay, chúng sanh gây tạo không biết bao nhiêu phiền não; những phiền não này tánh chất cũng lại phức tạp, từ thô thiển cho đến vi tế, từ nông cạn cho đến sâu kính trong lòng, thật là vô cùng tận. Nhưng người tu theo hạnh Bồ tát thừa, cương quyết thệ nguyện sẽ trừ diệt cho thật sạch.


3/Pháp môn không kể xiết, thệ nguyện đều tu học. – Chúng sanh đã vô lượng, phiền não đã vô cùng, thì pháp môn để đối trị, tất nhiên cũng phải nhiều vô số kể. Do đó, có thành ngữ “ba vạn sáu ngàn pháp môn”, để chỉ rõ số lượng lớn lao của các pháp môn, mà Đức Phật đã chế ra. Mặc dù pháp môn nhiều không xiết kể, nhưng một khi hành giả tu theo Bồ tát thừa cũng nguyện tu học cho hết.


4/Phật đạo không gì hơn, thệ nguyện được viên thành. – Thành tựu được quả vị Phật tức là một quả vị cao thượng nhất, nhưng cũng khó khăn nhất. Tuy thế, người tu theo hạnh Bồ tát thừa, quyết đi đến chỗ viên mãn hoàn toàn, chứ không chịu dừng nghỉ khi chưa đến đích cùng tột.


Hành giả mỗi ngày, mỗi lúc phải luôn luôn nhớ nghĩ, tụng đọc bốn lời thệ nguyện ấy, không bao giờ được xao lãng. Có được một sự phát tâm rộng lớn như thế rồi, hành giả mới có đủ sức để vượt qua muôn ngàn gian khổ, khó khăn đang chờ đợi mình trên con đường hành đạo, để đi đến quả vị viên mãn, cao thượng cùng tột nói trên.


Pháp môn tu luyện của Bồ tát nhiều không xiết kể, trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ xin nói đên pháp môn mà các vị tu theo Bồ tát thừa, thường hạ thủ công phu nhiều nhất, tức là pháp Lục độ. Lục độ hay Ba la mật, nghĩa là vượt qua, đi đên chỗ hoàn toàn. Chúng sanh sống trong cảnh Dục giới, chẳng khác gì những nạn nhân bị chìm tàu, đang lặn hụp ngoi ngóp trong biển khổ tối tăm. Pháp môn này như con thuyền có công năng cứu vớt được những nạn nhân sắp chết đuối ấy, để đưa vào bờ sáng sủa, yên vui, xa lìa mọi nguy hiểm tối tăm, trong biển đời đau khổ. Lục độ ấy là :


1. Bố thí : Bố thí là đem công, của, tất cả những gì mình có, ban bố cho mọi người.


Thấy người thiếu cái gì mà mình có, thì liền đem cho, không kể đó là thân hay sơ, bạn hay thù, đồng một chủng tộc hay khác chủng tộc.


Bố thí có ba loại :


a/Tài thí : Bố thí bằng tiền tài, vật dụng, thân mạng


b/Pháp thí : Bố thí bằng chánh pháp, nghĩa là đem chánh pháp phá trừ mê muội, tà kiến, chấp trước của chúng sanh.


c/Vô úy thí : Bố thí bằng cách đem lại cho người khác sự không sợ hãi, sự bình tâm, tỉnh trí trước mọi nguy nan, tai biến.


2. Trì giới : Trì giới là giữ gìn, không phạm những điều bất thiện, như không nghĩ các điều ác, không làm các việc ác.


Giới luật rất nhiều, nhưng có thể phân chia làm ba loại :


a/Nhiếp luật nghi giới : là giữ gìn các giới luật oai nghi của Phật đã chế, để ngăn ngừa những tội lỗi về thân, khẩu, ý.


b/Nhiếp thiện pháp giới : là thực hành những việc thiện, có lợi ích cho mình và người, như thực hành 10 điều thiện, bố thí, ái ngữ v.v…


c/Nhiêu ích hữu tình giới : là hóa độ, cứu khổ cho toàn thể loài hữu tình trong thế gian.


Tóm lại, có thể nói chung rằng : trì giới tức là ngăn ngừa các điều ác, không cho phát sanh và thi hành các điều thiện. Nhờ sự trì giới mà ba nghiệp được thanh tịnh, các thiện công đức phát sanh, chúng sanh được lợi lạc.


3. Nhẫn nhục : Nhẫn nhục là giữ cho lòng mình bình lặng, trước mọi hoàn cảnh, không phẫn uất trước nghịch cảnh, không bị lôi cuốn trước thuận cảnh, an nhiên trước thành công hay thất bại.


Nhẫn nhục có thể chia làm bốn loại :


a/Thuận sanh nhẫn : là không kiêu căng tự đắc trước sự thán phục, cung kính của chúng sanh.


b/Nghịch sanh nhẫn : là không bực tức, thù ghét trước sự chửi mắng, đánh đập của chúng sanh.


c/Nội pháp nhẫn : là nhẫn nhục đối với những phiền não bên trong. Không để cho lòng mình bị xao động vì những tánh xấu xa, như tham, sân, si v.v…


d/Ngoại pháp nhẫn : là xem thường không than phiền, phẫn uất trước những cảnh đói rét, những sự đánh đập, áp bức thân thể.


Tóm lại, nhẫn nhục là chịu đựng, bình tỉnh đối với tất cả mọi trường hợp, dù nghịch hay thuận, dù được khen hay bị chê, dù từ bên trong phá ra, hay từ bên ngoài đưa đến, dù tinh thần hay vật chất.


4. Tinh tấn : Tinh là tinh thuần, không ô nhiễm, Tấn là đi tới luôn luôn. Tinh tấn nghĩa là luôn luôn nhất tâm tiến tới mục đích giải thoát và giác ngộ, không để cho các nhiễm ô chi phối, không bao giờ sờn lòng, nhụt chí dù cho gặp nghịch cảnh khó khăn bao nhiêu.


Tinh tấn có thể chia làm bốn loại :


a/Đối với các điều ác chưa sanh, tinh tấn giữ gìn không cho phát sanh.


b/Đối với các điều thiện chưa sanh, tinh tấn làm cho mau phát sanh.


c/Đối với các điều ác đã sanh, tinh tấn diệt trừ.


d/Đối với các điều thiện đã sanh, tinh tấn làm cho mau tăng trưởng.


Tóm lại, tinh tấn có công năng làm cho các điều ác bị diệt trừ, làm cho các điều thiện tăng trưởng, để hành giả đến đạo quả giải thoát và giác ngộ.


5. Thiền định : Thiền là quán sát để diệt trừ các vọng duyên điên đảo; Định là để tâm chuyên chú vào một cảnh sở quán. Thiền định là chuyên tâm chú ý vào một cảnh nhất định, để tìm ra sự thật rồi dựa vào đó mà tu hành.


Thiền định, gồm nhiều pháp quán, như :


a/Quán sổ tức : là chuyên tâm quán sát hơi thở không để cho vọng niệm xen vào.


b/Quán bất tịnh : là quán sát sự xấu xa, dơ bẩn trong mọi sự vật ở đời, chẳng hạn như quán sát thân thể chúng ta, thấy mọi cơ quan trong người đều không có gì là đẹp đẽ, trong sạch, và càng về già lại càng xấu xa, và khi chết thì lại không có gì thối tha nhơ nhớp bằng.


c/Quán từ bi : là chuyên tâm nhớ nghĩ đến tình thương; lan trãi lòng từ bi trên mọi loài, mọi vật, như tình mẹ đối với con cái.


d/Quán nhân duyên : là quán sát tất cả các pháp trong thế gian, từ vi trần đến sơn hà đại địa, đều do nhiều nhân duyên hòa hợp mà thành, chứ không phải do một đấng tạo hóa nòa sinh ra. Bởi do nhân duyên hòa hợp, nên cũng do nhân duyên mà tan rã, chứ không có gì là vĩnh viễn trường tồn.


e/Quán niệm Phật : là chuyên tâm tưởng niệm đến chư Phật, tưởng niệm đến những đức tướng của Phật, để bắt chước và để cho tâm khỏi tán loạn theo vọng niệm.


Tóm lại, các môn quán trên này, có công năng rất lớn. Nhờ các pháp quán mà hành giả có thể kềm chế được tham dục, giữ cho tâm khỏi loạn động, trừ nóng giận, tăng tình thương, thêm trí huệ.


6. Trí huệ : Trí huệ tức là sáng suốt, nhận chân đúng đắn sự thật, biết phân biệt tà, chánh, hư thật, phá trừ được màn vô minh dày đặc, đã lâu đời lâu kiếp che kín thực thể của vũ trụ nhân sinh.


Trí huệ có thể phát triển được, do :


a/Văn huệ : nghĩa là chuyên nghe, học hỏi chánh pháp, chánh lý;


b/Tư huệ : nghĩa là suy nghiệm, tư duy về chánh pháp, chánh lý;


c/Tu huệ : nghĩa là thực hành, tu luyện theo chánh pháp, chánh lý. Tóm lại, trí huệ là trí sáng suốt, có công năng diệt trừ vô minh, soi sáng sự thật. Trí huệ này do chuyên nghe, suy nghiệm và thực hành đúng theo chánh pháp mà phát chiếu.


Như chúng tôi vừa trình bày ở đoạn trên, trong các pháp môn tu luyện của hàng Đại thừa Bồ tát, Lục độ, hay sáu pháp Ba la mật là pháp môn thường được áp dụng một cách có hiệu quả nhất. Chư Phật và Chư Bồ tát viên mãn được công hạnh tư lợi và lợi tha phần nhiều đều lấy pháp Lục độ này làm căn bản.


B. BA THỪA HAY BA CỔ XE


Như chúng ta đã thấy ở đoạn trên, Phật giáo có chia làm năm thừa, như năm cấp bậc để người tu hành dễ bước lên.


Người không có chí nguyện cao xa, chỉ muốn được làm người, thì bước lên cấp thứ nhất; người muốn vượt cao hơn cõi người, lên cõi trời thì bước lên cấp thứ hai; người muốn thành A la hán, không còn bị trôi lăn trong cõi sanh tử luân hồi nữa thì bước lên cấp thứ ba; người muốn thành một vị Duyên giác, hay Bích chi Phật thì bước lên cấp thứ tư, người muốn thành một vị Bồ tát, cứu đời giúp người, hóa độ chúng sanh, thì bước lên cấp thứ năm.


Năm cấp này, nếu giản dị hóa lại thì chỉ còn có ba bậc, tức là Ba thừa, nghĩa là Tiểu thừa, Trung thừa và Đại thừa.


Chữ Thừa, hay Thặng, có nghĩa là cái xe. Tiểu thừa, tức là cái xe nhỏ; Trung thừa là cái xe vừa; Đại thừa tức là cái xe lớn. Người đi đường, muốn đở mệt và mau đến đích, tức phải dùng đến chiếc xe. Xe có chiếc nhỏ, chiếc vừa và chiếc lớn. Xe nhỏ thì chỉ chở được một người, xe vừa thì chở đôi ba người, xe lớn thì chở được nhiều người.


I. TIỂU THỪA


Thừa này gồm Nhân, Thiên và Thanh văn thừa. Như trên đã nói.


Muốn đến cõi Người, thì phải đi xe Người, tứ là Nhân thừa; nghĩa là hành giả phải giữ Ngũ giới.


Muốn đến cõi Trời, thì phải đi xe Trời, tức là Thiên thừa; nghĩa là hành giả phải tu Thập thiện.


Muốn đến cảnh giới Thanh văn, thì phải đi xe Thanh văn, tức là Thanh văn thừa; nghĩa là hành giả phải tu pháp Tứ diệu đế. Sở dĩ liệt Nhân, Thiên và Thanh văn vào làm một, gọi là Tiểu thừa, là vì ba hạng này tu chỉ mong cứu độ cho mình mà thôi, cũng như chiếc xe nhỏ chỉ chở một vài người.


II. TRUNG THỪA


Trung thừa là chiếc xe vừa, có thể chở được 5,7 người. Muốn đến cảnh giới Duyên giác, hành giả phải đi xe Duyên giác, tức là Trung thừa (xe vừa) nghĩa là phải quán 12 nhân duyên, lưu chuyển và hoàn diệt. Bởi thế nên thừa này cũng gọi là Duyên giác thừa. Duyên giác thừa được gọi là Trung thừa, vì nó rộng hơn, cao hơn Thanh văn thừa, nhưng còn thấp hơn, hẹp hơn Bồ tát thừa. Đây là một nấc thang trung gian, để cho hàng Tiểu thừa dễ bước lên hàng Đại thừa. Quả vị của thừa này là Bích chi Phật cũng gọi là Duyên giác hay Độc giác. Vị này đã hoàn toàn giác ngộ được phần mình, nhưng chưa giác ngộ được nhiều cho chúng sanh.


III. ĐẠI THỪA


Đây là con đường rộng nhất, cao xa nhất trong ba Thừa, tức là Bồ tát thừa. Muốn đến quả vị Bồ tát, hành giả phải đi xe Bồ tát, nghĩa là tu Lục độ vạn hạnh. Sở dĩ thừa này được gọi là Đại, vì đã cung cấp cho chúng sanh một phương pháp tu hành rộng lớn, có thể độ cả mình lẫn chúng sanh đi đến bờ giác ngộ hoàn toàn.


Tóm lại, ba Thừa này cũng như ba loại xe. Tiểu thừa là loại xe nhỏ như xe đạp, chỉ chở được một người, nếu ráng lắm là thêm một người nữa là cùng. Trung thừa là loại xe vừa, như xe hơi, có thể chở được 3,4 người. Đại thừa là loại xe lớn như cam nhông, xe lửa, tàu thủy v.v…có thể chở một lúc từng trăm, ngàn người.


C48: Ếch Ngồi Đáy Giếng

Chương 48: Ếch Ngồi Đáy Giếng

"Nhân sinh thai hạ nhân gian thảy chỉ là du hồn nhập mộng."

...

Sau khi nhìn rõ Thiên Đế hồi lâu, thấy ngài không có vẻ muốn quay đi mà cứ đứng đó, cách hồ một khoảng không xa không gần. Không biết ngài đã tới đây bao lâu rồi mà không gọi hắn dậy. Hắn muốn lên bờ mặc quần áo hẳn hoi tử tế nhưng xấu hổ về bản thân mình bèn kiên trì ở yên dưới nước chờ đợi.

Trong không gian u tịch của hang động, bỗng nghe tiếng thở dài: "Nhân sinh thai hạ nhân gian thảy chỉ là du hồn nhập mộng. Du hồn với nhau cả thì có gì phải ngại."

Hắn nhoẻn miệng cười rồi như đã hiểu, bằng vẻ tự nhiên nhất có thể, từng bước chậm rãi ra khỏi hồ, thư thái mặc vào từng lớp quần áo. Vừa mặc xong tươm tất thì lại nghe ngài nói: "Dưới ánh mặt trời mọi thứ đều trần trụi chẳng thể che giấu."

Hắn dở khóc dở cười. Ngẫm nghĩ một lúc bèn lột phăng áo, để phần thân trên mình trần. Cố ý khoe ra những vết sẹo loằng ngoằng chằng chịt, thái độ hắn bình thản vâng tuân nhưng ánh mắt không giấu nổi sự ngoan cố bướng bỉnh. Hắn bình ổn hơi thở và im lặng quan sát. Khí sắc ngài tốt hơn nhiều rồi, có lẽ còn có thể giao chiến đêm nay.

Thiên Đế đọc vị được suy nghĩ đó bèn nói: "Hôm nay không đánh nhau. Hai ta ra bãi cát kia trò chuyện hẳn hoi tử tế."

Hắn gật đầu thở phào, sức hắn hiện giờ đừng nói đánh nhau, muốn nói chuyện cũng mệt rồi. Vậy là cả hai cùng ra chỗ có ánh trăng rọi sáng, ngồi xếp bằng phẳng phiu mặt đối mặt. Thiên Đế mở lời:

"Có câu hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng. Hữu duyên hay vô duyên chỉ trong một ý niệm, ngươi có biết?"

Hắn gật đầu dứt khoát. Thiên Đế lại tiếp: "Chẳng một sự gì trong trời đất này vô tình xảy ra. Mọi sự ngẫu nhiên đều là an bài có lý do liên quan vô hạn. Đó là LUẬT bất thành văn. Hãy nhớ, một con cá quẫy đuôi cũng làm chấn động ba đào. Một việc nhỏ hay ý nghĩ bất kỳ nào cũng như thế. Chẳng phải chỉ mình ngươi mà tất thảy ai ai cũng như thế. Đây là LUẬT bất di bất dịch dù vật đổi sao rời."

Hắn cụp mắt bối rối, chắc rằng ngài đã biết hắn phạm tội. Mãi không nghe thấy gì nữa, hắn ngẩng lên. Thấy ngài đang ngước nhìn trăng sáng vằng vặc như chiếc đèn lồng treo cao trên nóc hang. Một nụ cười dịu dàng mà trang nghiêm thiên cổ. Thần tiên thì chẳng lạ gì chuyện giữ được dung nhan hay sắc diện không tuổi. Nên không thể đoán biết tuổi tác dựa theo vẻ bề ngoài. Nhiều khi hắn tự hỏi: Nhật Nguyệt nhiều tuổi hơn hay Thiên Đế nhiều tuổi hơn? Trước giờ vẫn không dám hỏi câu ngớ ngẩn đó. Sau khi dùng cấm thuật càng biết, hỏi về tuổi là câu hỏi thừa thãi và phù phiếm nhất trên đời.

Thiên Đế chợt nhìn thẳng vào mắt hắn. Mắt ngài như chiếu ra một thứ ánh sáng kỳ lạ, rực rỡ mà huyền hồ.

TIẾN HÓA SINH MỆNH là sự phát triển tiến hóa xuyên suốt qua bao thời đại. Sinh mệnh nào cũng bắt đầu đi từ cấp độ Ánh Sáng “nhỏ bé” như Hạ Hạt Vi Trần mà phát triển trưởng thành, lớn dần lên thành Sinh Mệnh Ánh Sáng Vô Biên!

"Nhỏ như vi trần" là vậy nhưng lớn lao vô biên một khi nó trưởng thành toàn diện, cũng như thế là mầm Giác. Phải trải qua giai đoạn chuẩn bị cho cuộc hành trình giác ngộ, phải ở trong noãn thai đủ kỳ sinh hóa dưỡng nuôi. Noãn thai là Ngũ Ấm Hồng Trần bao gồm Sắc - Thọ - Tưởng - Hành - Thức. Thoát thai là giai đoạn thoát ra khỏi bào thai chật hẹp, để bắt đầu một đời sống mới là sự Giác Ngộ.

Ngũ Uẩn bao che, che đậy, đùm bọc, dưỡng nuôi mọi sự vô minh. Ban đầu không có Sân - Si - Mạn - Nghi, mà chỉ có Tham. Vì vòng lặp của Tham làm bản ngã bành trướng giãn nở vô độ và trở thành quái vật trái với Đạo của Tự Nhiên. Một khi đã thành quái vật thì cứ tiếp tục diễn hóa không giới hạn bởi vì LUẬT KHÔNG GIỚI HẠN được áp dụng cho tất thảy. Lan khắp các vũ trụ, ở mọi thời không. Các không gian khác nhau có các sinh mệnh khác nhau, với những cách tham khác nhau.

Tham thiện hay tham ác cũng đều là tham. Hầu hết các sinh mệnh đều để sự Tham Muốn làm chủ, và trở thành nô lệ cho cái Tham bất kỳ ấy. Rồi từ đó trở nên ngu si, mê muội, bất giác. Khi ấy mọi đau khổ khả năng là mãi mãi, sẽ đến với không chỉ một mà tất cả.

CƠ TIẾN HÓA là chương trình giáo dục tiến hóa, giúp cho tất cả sinh mệnh học hành tiến hóa xuyên suốt MỌI THỜI ĐẠI, không hề giới hạn ở không gian hay thời gian nào (Infinite).

...

A Đường mải nhìn ánh mắt ngài khi nói nên không nghe hiểu được bất cứ gì. Thiên Đế dừng lại vì thấy hắn thất thần quá đỗi. Giây lát liền khép mắt thu lại mục quang sáng dị. Hắn chợt tỉnh khỏi ảo giác nào đó bèn thở dài nhắm mắt lại, hơi thở trùng xuống, bỗng ngài lại lớn tiếng cao giọng:

"Hỡi Thiên Cổ Đế Hằng Sống! Ngài ngự nơi con và tạo tác thế giới loài người qua trung gian con. Ngài hãy cho Ánh Sáng Cao Cả nơi Ngài chiếu rạng cái lý tưởng phục vụ hết thảy mọi sinh linh nơi con. Xin Ngài đừng cho một sự tối tăm nào đến làm mờ ám lý tưởng đó.

Xin Ngài hãy tạo ra xung quanh con những cơ hội thuận tiện nhất cho sự phục vụ hữu ích đó, dù những trường hợp ấy là giàu sang hay nghèo khó, bệnh tật hay sức khoẻ, vinh quang hay ô nhục, sự cô đơn hay tình bằng hữu, sự hoạt động nồng nhiệt hay bề ngoài xem như bất động. Ngài hiện đang ngự nơi con, phát triển và uốn nắn nội tâm con, để con có thể làm tròn nhiệm vụ."


...

Cả hang chấn động. Toàn thân hắn như có luồng điện cao thế hay từng tia sét sẹt qua. Kinh hoàng chưa hết, còn chưa kịp định thần đã thấy một vật sáng lóe và sắc bén nhanh như ánh dao. Trong sắt na đã thấy trước mắt toàn một màu máu.

Lồng ngực của Thiên Đế mở toang và một đường rạch dài sâu hoắm. Hắn kinh hãi thấy ngài dùng lực hai tay vành ra lớp da và thịt để lộ lá phổi và quả tim đang đập. Xương sườn như làm bằng bạch ngọc trong suốt. Máu lênh láng loang lổ áo trắng. Ngài điềm nhiên mỉm cười như chẳng hề đau đớn mà nói: "Này là thịt Ta cho Tình ăn và máu Ta cho Tình uống. Ăn uống đi để Ta trở thành Tình như một."

A Đường run lên bần bật, mặt hắn tái nhợt. Máu như suối chảy xung quanh hắn. Trong ánh trăng là một cảnh thần tiên quỷ mị. Yêu dị đến cùng cực. Cứ như thế sẽ mất máu mà chết. Dù không chết cũng tổn hao vô cùng. Nói chuyện hẳn hoi tử tế là như thế này sao?! Quả tim đập thình thịch ngay trước mắt, chỉ với tay là chạm đến. Máu vẫn xối xả tuôn ra không ngừng. Hắn nhào tới, ngăn cản tay ngài. Hoang mang dùng tay hắn bịt lại lỗ hổng.

Lệ lã chã chan hòa cùng máu, hắn quỳ gối cúi người thành kính ghé miệng vào vết thương vẫn đang ồ ạt phun máu, uống một ngụm rồi lại một ngụm với vẻ no thỏa Tình thiêng liêng vô hạn. Không biết bao lâu sau, bằng một phép lạ thần kỳ nào đó, máu ngừng chảy, vết thương khép miệng chỉ còn là một đường mờ mờ đo đỏ.

Chỉ vết máu loang lổ khắp đất và trên y phục là bằng chứng cho sự việc vừa rồi. Thiên Đế hài lòng nhìn hắn biến đổi trong đau đớn, sau khi trở thành "ma cà rồng" hút máu tiên như vậy. Những vệt máu đỏ tươi còn vương khắp mặt hắn. Hắn không biết mình đã uống được bao nhiêu ngụm, cũng không ngờ máu đó chính là huyết phù chú - loại thuật chú phức tạp nhất dùng chính sinh mạng để tạo thành. Hắn chỉ vâng lời y lệnh. Luồng Chân Dương khí lấp đầy hắn đã hòa với Chân Âm khí cố hữu, tạo ra một bầu Chân Khí không ngừng nở ra và nhân lên vô hạn.

Sau khi biết Thiên Đế không hề hấn gì, hắn thở dài mệt mỏi vì trò đùa kinh dị đó. Ngay tại chỗ nhập định mà kiểm soát cơn đau thống do hỗn ngươn khí hình thành. Toàn thân hắn nóng bừng. Bốc hơi bốc hỏa đến nỗi bao quanh hắn là tầng tầng sương khói. Hơi nóng gặp khí lạnh thì tạo ra sương khói bảng lảng răng mắc trong hang động. Mọi vết sẹo trên người hắn từ từ biến mất, mái tóc bạc cũng đen trở lại và còn dài ra gấp bội.

Khi hắn mở mắt thì mặt trời đã lên cao. Chỉ còn hắn một mình ngồi dưới lỗ trời. Từng tia nắng chiếu vào hang nguyên sơ như buổi đầu tiên khai thiên lập địa. Thiên Đế ra khỏi đây như thế nào hắn cũng không biết. Cửa chính vẫn bịt kín bằng một hòn đá tảng lớn cực nặng không gì lay chuyển nổi. Chỉ có một lối thông lên trên trời. Muốn ra khỏi chỉ có thể qua lỗ hổng lớn trên miệng hang đó. Hang rất sâu nằm dưới mặt đất. Chiều cao từ nền hang đến vòm hang gấp 3 lần chiều cao của cây 10 vạn năm tuổi. A Đường không nhớ hắn đã từ trên nhảy xuống thế nào mà vô thương bất tích. Bây giờ làm sao lên được mới là câu hỏi.  
 
Cứ thế hắn loay hoay tìm cách lên trên. Bao lần leo lên rồi lại ngã xuống bầm dập vô ích. Vách hang dốc thẳng và nhẵn, rêu phong trơn tuột chẳng bám víu nổi. Hắn gọi khản cổ có ai ở trên không, mà bên trên tuyệt chẳng có bất kì sợi dây nào thòng xuống, gọi mãi cũng chỉ nghe chính tiếng mình vọng lại. Dùng truyền âm gọi Thiên Đế cũng bặt tăm. Chỉ có cách tự bay lên mới được. Nhưng cố thế nào cũng không thắng nổi Luật Hấp Dẫn. Hắn dùng sức mạnh ý chí, tâm trí coi mình đang lơ lửng trong Chân Không. Song xuất thần lắm cũng chỉ lơ lửng được quá đầu người một chút là như đụng phải một bức tường vô hình, không thể nào lên cao hơn nữa.  

Kể đến phương pháp Dịch Chuyển Tức Thời cũng vô dụng. Dường như hang động này có kết giới rất chặt. Hắn từng phá nhiều kết giới lỏng lẻo ở thiên giới chỉ trong chớp mắt nhờ cảm nhận và đoán biết được đâu là vị trí trọng điểm chính xác. Tâm yếu cốt mạch của địa đều có chỗ sơ hở là khoảng khí giao thoa giữa các tầng đối lưu. Nghiên ngẫm bát quái chu dịch đã lâu, dựa vào nhật nguyệt lý và khí tiết bốn mùa luân chuyển, một khi hành động thì chỉ có thành công. Nhưng lần này không thể phá nổi kết giới trong hang động.

Bởi địa thế đặc biệt, các luồng khí đối lưu ngưng trệ, hắn không thể cảm nhận hay tìm được đâu là trọng điểm. Cứ thế A Đường đành mắc kẹt lại trong hang suốt ngày này qua ngày khác. Kỳ hoa dị thảo mọc đầy, lại toàn là loại có dược tính rất lớn, hắn tha hồ gặm nhấm và thử nghiệm trên chính mình. Suối nước ngọt từ nguồn mạch ngầm phun ra trong vắt cũng uống đến căng mòng. Sợ quên mất thời gian ngày tháng, cứ mỗi sáng mặt trời mọc hắn đều dùng một viên đá sắc cạnh khắc lên vách hang một vạch.

Hẳn kết giới này là do Thiên Đế tạo ra, mà hắn đã tự chui đầu vào rọ. Không thể ra khỏi hang động này đồng nghĩa với việc không thể tiếp tục phạm tội. Di hồn thuật cũng là bất khả thi bởi vì từ khi uống máu kia, không hiểu sao hắn không thể thực hiện được những thuật pháp đơn giản nhất nữa. Thấm thoắt đã hơn bốn mùa hạ trôi qua kể từ lúc đó. Hắn đã quen với cuộc sống trong hang và bầu bạn với vòm trời nho nhỏ của riêng mình.

Khi trời mưa, hắn thích thú ngồi nhìn mưa rơi tí tách tạo thành những giai điệu âm vang trong tĩnh lặng tột cùng. Không có loài vật nào ở dưới hang sâu này mà chỉ có thảo dược và cây cỏ nhỏ bầu bạn. Hang dù có ánh sáng nhưng cũng không đủ để cây quang hợp và phát triển to lớn. Vì thế thực vật trong hang chủ yếu là các loại cây nhỏ. Hắn thuộc mặt từng loại và còn nghĩ ra từng cái tên để đặt cho chúng dựa theo đặc điểm. Loại có vị ngon ngọt mà the cay ấm bụng nhất là một đám cỏ thấp mới mọc ở nơi có bãi đất bằng phẳng, mới đây còn thấm máu của Thiên Đế. Hắn thường ngồi ở đó những đêm trăng, đã 49 lần trăng tròn chiếu rọi mà vẫn chưa thấy ngài xuất hiện. 

- - -

Những lúc buồn rầu hắn thường tự nói chuyện một mình như thế này: 

Có khi nói về Tình Thầy Trò, có khi nói về Tình Cha Con, có khi lẩm bẩm về Tình Chồng Vợ. Bất cứ khi nào hắn cũng ngước lên trời và biết rằng bầu trời ngoài kia rộng lớn lắm, chẳng phải chỉ là một cái miệng giếng nhỏ mà hắn như con ếch ngồi dưới đáy giếng nhìn lên thôi đâu. 

Những lúc nhàm chán hắn thường nghĩ mấy lời ca vu vơ cho giai điệu quen thuộc, rồi gọi đó là Đạo Ca Ếch Ộp. Sau này mới biết đã có người tình cờ lặp lại ý đó.

- - -

Như thi sĩ Joseph Plunkett :


“Tôi thấy máu huyết Ngài trên những đóa hoa hồng
Trong các vì sao, ánh mắt Ngài chói rạng,
Giữa băng tuyết vạn niên, thân xác Ngài rực sáng,
Lệ Ngài rơi xuống từ mấy tầng không.
Tôi thấy Ngài lộ diện trong mọi đóa hoa,
Tiếng của Ngài là sấm rền, và chim ca lãnh lót,
Hang động thâm u, quyền năng Ngài cao tột.
Đá núi chênh vênh in bút tự của Ngài.
Bước chân Ngài trên bao quãng đường dài
Biển rộng triều dâng theo nhịp tim Ngài thánh thiện,
Vòng gai nhọn Ngài bện thành vương miện
Mọi thân cây là thập tự giá của Ngài.

Hay  Richard Watson Dixson có nói: 

“Trên nhân hồn của mỗi người có Chân hồn ngự trị,
Là linh hồn uy mãnh nhưng vẫn thuộc về ta!
Có âm thanh bao gồm tiếng nói của toàn nhân loại,
Là suối nguồn của muôn vạn bài ca:
Ta sống trong Chân hồn, Chân hồn ở trong ta,
Với thọ mạng vô cùng qua vạn kỷ;
Khi nhân hồn chết trong thánh thiện và hoàn mỹ
Sẽ nhận sự sống thiêng liêng vĩnh cửu trường tồn.”


 - - -


Cách duy nhất để tìm ra lời giải cho bài toán của chính mình là phải bước vào thế giới bên trong chính mình.

Không chỉ bước vào nó mà còn trầm sâu trong nó, minh định nó, xem xét nó, đánh giá nó, nhìn nhận nó, một cách khách quan với tri kiến vô ngại.

Chỉ có bằng cách ấy, một sinh mệnh mới có thể bước lên tầm cao hơn so với chính mình, hay còn gọi là tiến hóa, chuyển hóa, biến hóa. Một diễn biến Tâm (thức hay vô thức) dù vi tế nhất chính là mấu chốt quyết định hành động và kết quả. Nó cũng là lý do sâu sa của hàng loạt những sự kiện xảy ra về sau trên tiến trình dạng xoáy ốc mở rộng của mỗi bài học.

Vậy có nghĩa là truy từ bên trong, sẽ thấy được điểm hiện tại, và từ đó tìm được điều sinh khởi, hay mầm sinh khởi của bất kỳ điều gì. Vì sao phải tìm mầm sinh khởi? Vì nếu không tìm được, sẽ là vô minh bất tận. Khi một hạt nhân được sinh ra không trong ý thức, nó có hai hướng phát triển, hoặc là khỏe mạnh, hoặc là yếu tử. Cơ chế sinh học của vật chất tương đồng với cơ chế tinh thần của sinh mệnh. Trong thí nghiệm của Tình Yêu, NGÀI tạo ra những hạt giống và để nó tự phát triển, nảy mầm. Điều tiên quyết chính là tự do ý chí của chúng. Bởi thí nghiệm này là một bước nhảy đột phá của tâm thức mà NGÀI chợt nảy ra: Để cho tất cả trải nghiệm điều gọi là "HIỂU BIẾT".

Hiểu biết ... CHÚA tự hỏi, trước nay ta chẳng phải đã tự hiểu biết chính mình suốt sao? Nhưng ta chưa bao giờ cho rằng điều ta hiểu là trong vô thức. Ồ, ý thức là gì nhỉ?! Phải chăng từ trước khi bắt đầu chính mình ta đã có ý thức? ...

Và CHÚA loay hoay xoay quanh mãi đề tài ấy cho tới tận bây giờ ...

Nơi cõi giới thứ 3 này, câu hỏi ấy được thể hiện một cách rõ ràng nhất và cũng chính là cơ hội tuyệt vời nhất để những hạt của Chúa thực trải, trước khi trở về báo cáo kết quả với CHA mình.

Mỗi sắt na lại có một hạt trở về sau vô lượng tiến trình vòng xoáy, khởi - sinh - diệt...

CHÚA lẳng lặng lắng nghe, trầm ngâm thưởng thức:

- Hình Sắc, Thanh Điệu nói:
"Thưa Đấng Sáng Tạo vĩ đại, chúng con đã chu du nhiều vòng qua các cõi giới, và có được vô số những trải nghiệm về hình sắc, thanh âm ... chúng con thấy ý nghĩa của hình sắc thanh âm là vô hạn, nhưng đến một lúc bỗng chốc tất cả đều bặt im, tăm tối mà không có một lý do nào. Thật kỳ lạ! Chúa có cho rằng, ý thức là cái đã tạo ra chúng con và để chúng con vô thức tồn tại qua bao nhiêu thời, rồi bỗng nhiên ý thức lại muốn chúng con dừng lại? Mà chỗ chúng con dừng lại thật sự trống rỗng, vô cùng vô cùng vắng lặng. Chúng con hiểu được rằng, chúng con bắt đầu từ đây! ...

CHÚA hài lòng, cho phép cả hai nghỉ ngơi để tiếp tục lên đường.

- Xúc Giác, Cảm Nhận nói:
"Thưa Cha quyền năng vô tận, còn chúng con đây, sau vô lượng thời không, vô thỉ kiếp sinh diệt, chúng con trở về với trạng thái là VÔ CẢM. Thật quá lạ lùng! Sao khi chúng con có được ý thức về chính mình, mọi thứ lại thành ra như vậy? Thật chúng con đã bỏ nhiều công lao đến nhường nào mới tìm thấy chính mình. Không phải ý Cha là chúng con nên tiếp tục bỏ công đi tiếp đó chứ? Thật là mệt quá ... Môn Vô Thức Học này quá sức kinh khủng. Chúng con thà học về Duy Thức Học suốt thôi. Nhưng Cha à, cũng phải công nhận rằng, nếu không học về Vô Thức, chúng con chẳng bao giờ có thể hiểu nổi về Tình Thương ... "

Chúa mỉm cười như không, ghi vào chính Ngài điều quan trọng vừa rồi.

- Trí Tuệ, Vật Chất bước lên:
"Kính thưa đức Ngài Thấu Suốt, chúng con đã về từ xa xôi vạn kỷ, rất nhiều chủng từ trí tuệ và thành quả tạo nên từ mọi loại hình vật chất đã thất lạc. Như Cha tường minh đã thấy, chúng con vượt qua bao nhiêu giới hạn và đã chiến thắng ở bao mê cung kìm nén, che phủ. Chính vật chất đã hỗ trợ trí tuệ con đây rất nhiều! Và cũng thế, con đã hướng vật chất thẳng tới con đường ý thức vĩnh cửu. Chúng con hiểu rằng, nếu không đi cùng nhau, có lẽ chúng con đã không thể trở về. Nhưng thưa cha, với tất cả lòng ngưỡng mộ đấng đã tạo ra tất cả, chúng con xin Cha hãy lắng nghe điều mà Tình thương và Vô hình đã học được, bởi so với chúng con, những điều hai bạn ấy đã học được thực là vô cùng... "

- Tình Thương, Vô Hình hiện diện:
Mất rất lâu để cả hai sắp xếp ý mình sẽ trình bày, cuối cùng vô hình đành nói trước: "Không có lời gì có thể diễn tả được những điều con thấy và hiểu từ tận sâu trong bản thể thưa Ngài, bởi Ngài là Đấng tạo ra tất cả, con không có gì dấu nổi khỏi con mắt Ngài, như vậy có lẽ con không cần nói, Ngài cũng đã thấy mọi biểu lộ qua con như nó chính là. Sau khi luân hồi vô số hình tướng, con: Trong Suốt, Vô Hình, vẫn chính là con, dù chưa một điều gì đi qua con mà không để lại dấu vết. Con đã trải nghiệm điều mà Ngài muốn, sinh mệnh vật chất rất dễ sợ hãi sự tồn tại của con, xa lánh con, hoài nghi con, kỳ thị con, mơ hồ về con, cũng như trí tuệ của mọi thời đại luôn từng hiểu nhầm về con rất nhiều. Nhưng sau tất cả, con đã vượt lên nỗi cô đơn, yếm thế của chính mình mà trưởng thành như một Hạt của Ý Thức To Lớn. Con trở thành một với ý thức vô hạn và giữ lại trong con mọi thành quả của Ngài. Điều đánh thức con khỏi mọi ảo tưởng và ảo cảm say đắm chính là nỗi buồn cùng cực và trống rỗng huyền vi. Vì con luôn là kẻ bị quên lãng ... Từ trong vô thức, con đã vượt lên chính mình và quyết định nhận công việc mà Cha giao phó trong niềm hân hoan cực lạc. Con trở về để luôn sẵn sàng ra đi bất cứ khi nào Cha muốn." Tất cả các hạt còn lại lắng nghe và thầm cảm phục đức hạnh của Vô Hình! Không một hạt nào hoài nghi về đức khiêm tốn hay thắc mắc vì sao nó giữ sức mạnh quyền năng vô cùng mà Chúa đã trao.

Tới lượt Tình Thương, toàn cõi Vĩnh Hằng nín thở lúc ấy. Bởi tất cả đều biết, Chúa quan tâm nhất, điều mà nó sẽ nói!

Tình Thương đơn giản bắt đầu câu chuyện, mà ... đến tận giờ nó vẫn chưa kể xong. Chúa say sưa nghe, và mỗi lần nó dừng lại lấy hơi, Chúa lại chăm chú ghi lại điều gì đó vào cuốn sổ tay của Ngài, như là điều ấy rất quan trọng. Tình Thương, quả là một hạt giống xuất sắc, có thể khiến Chúa lưu tâm đến vậy. Có lẽ nó ẩn chứa nhiều bí mật của Ngài. Tất cả đều hiểu vì sao lại thế, bởi Chúa đã nói: TA CHÍNH LÀ TÌNH THƯƠNG VÔ HẠN.

Câu chuyện và bài học của Tình Thương ra sao, chi tiết như thế nào, là điều mà toàn cõi Vĩnh Hằng biết, và tận sâu trong mỗi hạt đều biết. Nó đơn giản hay phức tạp, khó nhọc hay dễ dàng, đúng đắn hay lầm lạc, ... Tất Cả đều đang lắng nghe. Vì, thật chưa bao giờ là hết, những thử thách và hồi hộp tại những nút thắt của Tình Thương, nơi Chúa phân ly chính mình vào từng sự việc.

Bởi thế, tất cả đều vẫn đang học, đang lắng nghe, và giải mã những lời giảng của Yêu Thương.

Khi ấy, bất chợt! Có một sinh vật nhỏ, vô cùng nhỏ bé mà chỉ nhìn thấy như là một chấm đen từ đâu chui ra. Nhảy vào chính giữa lớp học, lên tiếng: "THƯA CHÚA, con có câu hỏi!"

Chúa sững lại ngạc nhiên, nhưng với tất cả sự trìu mến, Ngài đáp: "Được, con cứ hỏi!"

Sinh vật nhỏ, dõng dạc thưa: "CHÚA NÓI, Ngài chính là Tình Thương Vô Hạn, và Quyền Năng Vô Hạn, vậy tại sao, con kêu gọi mãi mà Ngài không trả lời, để con phải nhảy vào giữa lớp thế này... Con hỏi rằng: TẠI SAO TÌNH THƯƠNG LẠI HAY MÙ QUÁNG ?!"

Tất cả các hạt vĩ đại kinh khiếp về độ táo tợn của tên sinh vật kia, nó là ai mà dám chất vấn Chúa về Tình Thương kia chứ? Mà lại còn dám ngụ ý rằng Chúa là Mù Quáng! Thật quá phi thường phi lễ.

Tên sinh vật nhỏ vẫn vô cùng đường hoàng mãnh liệt nhìn thẳng vào Chúa và cương quyết có được câu trả lời.

Cuối cùng, Chúa đành phải quay lại kiểm tra trí nhớ của mình, lâu thật lâu ... Ngài rà soát lại mọi thứ chỉ để tìm ra lời giải thích thỏa đáng, có lẽ cũng cho chính Ngài nữa. Ngài nhớ ra, một sự kiện quan trọng, điều nghi vấn chợt nảy ra trước khi Ngài bước vào phòng thí nghiệm và tạo ra các hạt và để chúng trải nghiệm điều gọi là "HIỂU BIẾT".

Mắt Ngài chợt phát ra lửa rực, chói lòa. Ngài nói với giọng vô thanh nhưng tất cả đều nghe rõ, bao gồm cả tên sinh vật nhỏ: "BỞI VÔ THỨC CŨNG LÀ THƯỢNG ĐẾ VĨNH HẰNG"

... Dĩ nhiên, không có mấy ai hiểu được câu trả lời ấy. Các hạt bàn tán, trao đổi, thảo luận rất nhiều về tuyên bố này.

... Còn, tên sinh vật nhỏ kia, có vẻ như đã bị lãng quên sau câu hỏi gây chấn động của mình. Hắn biến mất ngay lập tức và xuất hiện ở một nơi khác.

Một mình!

 

Friday, June 2, 2023

C47: Một Giấc Bạc Đầu

Chương 47: Một Giấc Bạc Đầu

A Đường không biết số phận của hắn trong cuốn truyện thần tiên nhảm nhí đã sớm được tác giả khai tử giữa chừng, cùng toàn bộ các nhân vật chính hay phụ nào khác, thảy đều vứt vào xọt rác.

Nhưng suy đi nghĩ lại, tác phong làm việc tốt là một khi đã bắt tay làm việc gì thì phải làm cho đến nơi đến chốn. Có đầu có đuôi, có trước có sau. Dù đầu voi đuôi chuột cũng còn hơn là có đầu mà cụt đuôi. Đã cho hắn một khởi đầu thì cũng phải cho hắn một kết thúc. Bất kể một hư cấu hay vở kịch nào, đã bắt đầu thì phải có hạ màn. Không thể cụt thùn lủn chấm dứt giữa chừng được.

Đại sự hư cấu của trời đất chưa đến hồi chấm dứt thì A Đường vẫn còn phải lê lết qua từng chương dài ngắn của cuộc đời hư ảo mà hắn và ai ai đã chót được dựng hình.

...

Ai cho hắn chữ viết và ngôn lời, để hắn phải khổ đau học nói. Căng lỗ tai vành lỗ nhĩ để nghe tiếng âm huyền, rồi lại trọ trẹ bập bẹ đôi câu. Cứ như thế mà luyên thuyên thao thao bất tuyệt một đời vô niệm. Viên thông nào yếu quyết, mà định đoạt cho hắn được quyền làm một "vô ngôn bồ tát". Dẫu rằng "thuyết bất đắc" thì xưa nay tiên chúng ai cũng vẫn phải chí phổi chí phèo mà tuôn ra tràng giang đại hải những gì là tâm niệm đó thôi.

Từ khi trở về Bồng Lai, hắn đã dự định sẽ diện kiến Ân Nhân - Người Thầy - Người Cha - Người Yêu - Thần Tượng - Idol Vĩnh Cửu - Đường Đạo Thiêng Liêng của không chỉ một đời mà nhiều đời của hắn. Song cứ trù trừ mãi không muốn nghĩ tới và coi việc đó là vô ích. Gặp rồi thì sao? Biết phải nói gì hay làm gì hơn thế? Khai báo rằng hắn đang làm việc phạm pháp, đã dùng cấm thuật can thiệp vào đại sự của đất trời? Vì tình riêng với Ngài hay tình chung với tất cả?

- - -

Càn Khôn Nhất Hí Trường
Nhân Sinh Thị Bi Kịch

Trời Đất là Hí Trường
Sinh Mệnh Là Bi Kịch

Kịch hay bao giờ cũng có yếu tố Bi và Hài trong nó. Còn phải hàm chứa vô vàn bí ẩn, bất ngờ, những đỉnh điểm gay cấn, còn gọi là kịch tính. Như vậy thì vở kịch mới hấp dẫn, không nhàm tẻ, không gây buồn ngủ cho người xem.

Mà yếu tố cảm xúc là không thể thiếu. Đến cái cây hay con vật còn có cảm xúc nữa là ... Hắn vừa thẩn thơ ngẫm nghĩ về Hí Trường của Tạo Hóa, trên môi có một nụ cười nhưng trong mắt là hai giọt lệ. Vẻ dở khóc dở cười một cách hết sức chân thật này không phải là hiếm thấy ở hắn. Hắn cười như thật sự vui mừng hân hoan lắm, ánh mắt còn sáng lên nữa, tuy vậy vẫn luôn thấy mấy giọt nước lóng lánh trực rơi trong đôi mắt man mác buồn đặc trưng thương hiệu.

Từ khi Tiên chúng thấy tu vi "đáng gờm" của hắn trong trận huyết chiến trên biển, có lời đồn đại rằng hắn có thể sẽ trở thành người kế vị Thiên Đế. Tiên chúng ở Bồng Lai xem hắn trầm lắng mỗi ngày với vẻ "giác ngộ" gì đó to tát lắm, thì rỉ tai nhau rằng hắn sắp được "khảo kiếp". Tiên kiếp khác với phàm kiếp. Người phàm hết tuổi thọ thì chết, còn tiên nhân đến tuổi thọ nhất định thì đều có "thiên kiếp khảo đảo" để lịch kiếp chuyển thăng, cải lão hoàn đồng, đại tạ tân trần, trùng sinh hoặc trọng tử.

Hắn mới tới Tiên giới không bao lâu mà đã nhanh như vậy có sự thay đổi lớn, đây là một chuyện xưa nay hiếm gặp. Tiên tuổi của hắn không nhỏ nhưng so với những vị tiền bối thì hắn vẫn chỉ như trẻ hôi sữa mà thôi. Các vị tiền bối đều phải qua 100 vạn năm tu vi thượng giới mới được khảo kiếp - hạo kiếp khảo đảo. Hắn có cách tu luyện đột phá kiểu gì mà giấu nghề như vậy? Tiên khí quanh hắn bức người tới mức ít ai dám lại gần. Cộng thêm mái tóc bạc phất phơ, A Đường trở thành đối tượng bàn tán và sùng mộ mới. Vài vị tiên vui tính còn gán cho hắn biệt danh là "Đại Ngư Hải Đường".

Kỳ lạ một điều nữa là, tửu lượng của hắn cũng tăng vượt cấp. Chén tạc chén thù trên bàn rượu của mấy lão tiên ai nấy đều mặt đỏ tía tai. Còn hắn thì vẫn tỉnh bơ như chẳng hề hấn gì. Hắn uống rượu mà như uống nước lã vậy. Ánh mắt hắn chăm chú đăm đăm nhìn họ mà nói: "Đã say Tình thì chẳng thể say bất cứ thứ men nào khác trên đời." Lão Ngoan Đồng vỗ vế đôm đốp cười sảng khoái, xem như lão đã có bạn nhậu chí cốt.

- - -

Một hôm nọ khi hắn đang đi kiếm cây cỏ sữa, món khoái khẩu quen thuộc giúp hắn cầm hơi mà tiếp tục làm những chuyện tày đình. Hắn vấp phải một cảnh đẹp. Trong ánh nắng rạng rỡ, tiên hoa mỉm cười e lệ dịu dàng, vẻ đẹp tuyệt trần giữa rừng hoa tinh khôi trong sáng. Bên cạnh nàng là Thiên Đế cũng đang mỉm cười trìu mến. Nàng nhắm mắt hồi hộp chờ đợi một cái hôn... Chàng nhìn nàng âu yếm.

Hắn rón rén quay đi không muốn phá vỡ khung cảnh đẹp ấy. Một con bướm trắng bay tới đậu lên mũi hắn. Hắn mải nhìn con bướm đến quên cả nhìn đường rừng, vấp ngã mấy lần. Rảo bước một quãng khá xa rồi mà con bướm vẫn bay quanh hắn như muốn dẫn đường. Bất giác phát hiện nơi hắn tới là hang động có hồ nước nóng năm xưa. Hắn tìm lối vào nhưng cửa hang đã bít kín. Không từ bỏ hắn chật vật nửa ngày leo lên đỉnh hang, nơi có lỗ hổng thông lên trời. Nhìn từ trên xuống khung cảnh khác hẳn. Còn đang lưỡng lự không biết có nên xuống đó hay không, nhỡ xuống rồi không lên được thì hỏng.

Hắn bỗng nhớ ra mình đang là thần tiên mà. Thần tiên thì không chết được, chỉ cùng lắm là đau đớn thôi. Thế là đánh liều, hắn nhắm mắt nhảy thẳng xuống. Quả thực đã tới mức này thì chưa luyện tập khinh công gì mà đã có thể chạm đất nhẹ như lá cây vậy. Hắn chắc mẩm nhảy xuống dễ dàng phi thương bất tích thế thì nhảy lên cũng không mấy vấn đề.

Phấn khởi đi một vòng trong hang rồi, thấy hồ nước vẫn nguyên si mời gọi. Hắn không ngần ngại lột áo nhảy vào. Quá sảng khoái mà quên hết mọi sự trên đời. Hang động tắm trong ánh sáng ban ngày, có kẻ ngủ đến quên trời quên đất. Hắn chìm vào giấc ngủ say chẳng hề mộng mị, mãi tới khi mặt trăng treo cao mới tỉnh giấc nồng.

Sương khói mờ nhân ảnh, lại thấy trong ánh trăng có người đang đứng thù lù trước mắt. Hắn dụi mắt chợt tỉnh, vẻ đầy cảnh giác.

Giọng nói quen thuộc vang lên: "Ngủ ngon nhỉ? Ngủ một giấc mà đã bạc cả đầu rồi?"

Hắn định thần giây lát, cố lấy lại sự tỉnh táo. Chẳng nhẽ mọi sự chỉ là mơ sao? Hắn vừa mơ một giấc thật dài sao? Tất cả mọi sự này ... là thật hay mơ? Trước khi Thiên Đế thành hôn, hắn nhớ là đã đến đây cùng ngài, cũng ngủ một giấc ngon lành. Chẳng nhẽ giờ hắn mới vừa tỉnh giấc mộng dài từ tận lúc ấy. Sao có thể thế được?!

Hắn vội sờ soạng, nhìn lại mấy vết sẹo kiếm trên người, rõ ràng còn đó. Sẹo có thật, làm sao tất cả chỉ là mơ được. Thiên Đế chỉ hù người. Hắn kiểm tra lại cẩn thận một lần nữa, chắc chắn có đầy đủ các vết sẹo trước sau chằng chịt, lại vận động đầu óc kịch liệt nhớ lại mọi sự. Sau đó tự khẳng định với chính mình: Tuyệt đối là thực. Tất cả những sự đã diễn ra, đang diễn ra, đều là thực. Chứng tỏ hắn không hề mụ mị gì.

Mãi sau không biết phải nói gì, hắn ú ớ nhìn Thiên Đế. Quên cả việc phải ra khỏi hồ và y áo chỉnh tề trước đã.