Saturday, June 7, 2025

C87: Độ Kiếp Đại Thừa Kỳ

Chương 87: Độ Kiếp Đại Thừa Kỳ

Ấy là thời kỳ chuyển đổi lớn lao mà Tiên Ma đã chông ngóng cả vạn năm trời. Thiên Hạ thì vẫn vậy, ít kẻ thức tỉnh khỏi giấc Nam Kha. Có người nói, bàn cờ này tất cả đều thuộc về Thiên Cổ Đế, trước sau gì vẫn vậy, do một tay ngài chơi đến cùng. Thiện Ác theo nhau như Bóng không rời Hình, như đôi tay còn có hai bàn trái - phải...

Tất cả những lý lẽ cao siêu ý nhị ấy tưởng như chỉ những cao nhân đạt đạo mới tiêu hóa được, thì nay đã phổ cập đại trà, để tầng lớp bình dân tạp vụ nhất trong khắp cùng thiên hạ được tỏ tường. Không phải độ kiếp đại thừa kỳ thì là gì?

Không có cái Xấu - Ác, thì cái Thiện - Hảo lấy đâu ra chỗ soi mình?
Vậy nên Đấng Thiên Cổ độ là độ cho cả Thiện lẫn Ác, cả Bóng tối lẫn Ánh sáng, cho tất tật cùng một lúc chứ nào phải riêng ai! Còn có câu: "Đức trọng quỷ thần kinh" vì vậy.

- - -

A Đường đã được thả ra khỏi Vô Cực Chi Không từ lâu, hắn ngụp lặn trong luân hồi và chung chia phận người với bao sinh chúng - là cha, là mẹ, là vợ, là chồng, là anh, là em ... kể trong muôn một. Đúng như nguyện ước muôn đời của hắn - hay của nàng.

Hắn đã không còn có thể phân định được rạch ròi đâu là chính mình, đâu là người khác nữa. Ký ức về thủa thần tiên xa lắc xa lơ nào cũng chẳng còn hiện về trong những giấc mơ thường nhật. Có chăng chỉ là những ảo cảm, ảo tưởng, vĩ cuồng song hành cùng thực tại bất toại không hồi kết.

"Sinh sinh tử tử hồng trần, trẻ trẻ già già cõi mộng, sướng sướng khổ khổ trong đời, yêu yêu ghét ghét phàm tục, thiêng thiêng tục tục thánh đế, Tam Giới xưa nay đâu tránh khỏi luân hồi. Quá khứ - Hiện Tại - Vị Lai, phải chăng đều là Chấp Sự, Chấp Tình trong Sự Tình Hằng Cõi."

Hắn lẩm bẩm như kẻ khờ chẳng ai thèm chấp. Mấy câu sướng sướng khổ khổ này, như để tự ủi an chính mình và đại chúng ... những vết thương nào tận sâu trong tâm hồn, những vết đinh nào đóng vào thân gỗ?! ...

Rồi hắn lại lẩm bẩm tự đồng hóa chính mình với đối tượng chiêm ngẫm:

"Ta là Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống."

Cho đến khi tiếng người bạn đời oai oái gọi đánh thức hắn khỏi cơn mê siêu thực nào:

"ĐƯỜNG! LÀM ĂN THẾ NÀY HẢ!? CÓ MỖI CÁI VIỆC ... MÀ KHÔNG LÀM ĐƯỢC!"

Quả đúng vậy, có mỗi việc đơn giản thế mà hắn làm không trọn, không hiểu hắn mơ mộng Sự Thật cao siêu nào?

- - -

Ở một gia đình khác, hắn lại nghe tiếng bà mẹ mắng con thơ: "Đéo/Địt mẹ mày..." Hắn lại giật mình thảng thốt về những sự thật tục tĩu nơi đời.

Ở một gia đình khác, hắn nghe tiếng lòng của nhiều ông chồng thở dài ngao ngán: "Cúc cung tận tụy đến chết chẳng màng, việc gì cũng kham, săn sóc hết cỡ thế rồi mà còn suốt ngày gặp ai cũng kể lể là bỏ mặc mấy mẹ con. Bọn đàn bà đúng là chỉ giỏi điêu ngoa."

Trong lúc đó, hắn lại nghe tâm trạng của các bà vợ với đôi hàng nước mắt lưng tròng đang ngồi ủ ê hiu hẩm với nhau cả một lũ:

"Đàn ông cái gì cũng muốn. Lòng tham vô đáy mà! Muốn vợ phải xinh như thiên thần, hút mắt, đoan trang, dịu dàng, một lòng một dạ, phải son sắt thủy chung trước sau như một. Cũng phải thỏ thẻ khẽ khàng, nhẹ nhàng e lệ, chiều chàng ... như gái làng ... Vừa phải khéo nuôi con nữa! Lại còn muốn vợ biết hái ra tiền, bao luôn trách nhiệm mua sắm. Rồi lại mong vợ không lo không lắng, sống thanh cao tâm an lạc vô ưu tư.

Không muốn nghe vợ nói, nói chưa hết một câu đã bảo nói nhiều. Không muốn vợ kiểm soát, tra vấn, khuyên nhủ. Lại còn muốn hiểu chồng như tri âm tri kỷ, như một nửa cái linh hồn, như một cái xương sườn.. vạn kiếp khó tìm.

Nếu mà vợ không đáp ứng được hết các điều ấy thì ... CHÁN!

Con thì khóc ra đấy, mà chồng thì biền biệt phương nào, dẫn theo đàn em đệ tử nao nào, để tào lao triết thuyết, huyên thuyên cái quái gì, chỉ giỏi ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng. Như lão Socrates ra giữa đường giữa chợ lê la, đến nỗi bà vợ không muốn cũng phải lôi cổ về xỉ vả thậm tệ cho bao lần mà vẫn không chừa!

Đã thế phụ nữ một đời tận hiến mà không được ghi công. Như quả chanh vắt nước cho chồng con uống, để rồi mà chồng thì được quyền háo gái bất cứ lúc nào. Được vui chơi nhậu nhẹt giao du với bạn bè bất kể xấu tốt. Được quyền hắt bát nước cũ, múc bát nước mới ngay. Chạy theo cái L (lòng) nào khác thì đã đành hẳn, chứ chỉ nay ngắm cái L, mai nghía cái L rồi xuýt xoa như mèo thấy mỡ mà không được ăn. Giả thử coi vợ cũng tham như thế, cũng thay L đổi dạ thì cái quả đất này còn có chỗ dung thân nào cho con cháu đời sau hay không? Có đáng trách, đáng khinh hay không?"
 
- - -

Cứ thế những vết thương vô lượng lòng đau không thể lành bởi không ai có thể phóng hạ đồ đao vô hình khó tả này. Cứ thế cha mẹ lưu truyền cho con cái những vết thương tâm lý nhiều đời. Và trần gian đã nhuộm đầy huyết lệ trong chính những ngôi nhà, nơi được gọi là bến đỗ bình yên nhất của ai ai. Văng vẳng những tiếng gào thét la lối, những tranh cãi to nhỏ, những giọt nước tràn ly vỡ choang hạnh phúc.

Mà lạ thay những nhà giáo dục, những người cải tổ không hình dung ra mọi ác đạo trên đời bắt nguồn từ đâu? Những thất vọng, tủi hờn trong những quả tim nhỏ, lòng tham to của những đứa trẻ không chịu lớn ...

Ma chúng thì biết rõ điều này. Chính vì thế ngàn năm nay chúng đã tìm mọi cách để phá hoại nơi thiêng liêng nhất trên trần gian ấy. Phá hoại gia đình nhỏ của phàm nhân bằng vô số cách thức, phá hoại gia đình lớn của chân nhân - tiên chúng bằng vô số mánh khóe tưởng chừng như đơn giản. Chúng chủ chương phô bày hình thức và kêu gọi, hứa hẹn mọi sự tận hưởng vô thường. Chúng bảo rằng đời có bao lâu mà phải đợi chờ, mà phải nghiêm túc suy ngẫm. Hãy chơi hết mình, trải nghiệm hết cỡ, bất chấp đi ... Đủ loại viện dẫn mang tính dối trá và lươn lẹo được tẩm ướp vào các món Tâm cho Khổ Hải Sản thêm phần hấp dẫn.

Lòng tham của con người được kích động vượt ngưỡng xưa nay chưa từng. Chúng vắt cạn mọi tài nguyên trong đất và nước, vơ vét cướp đoạt đến tận cùng những con cá bé tẹo, những con tôm con tép nhỏ, là thức ăn nuôi mạng của bao loài khác. Chúng đầu độc mọi sự. Chúng phung phí mọi sự, đạp lên mọi sự, phá nát mọi công trình màu nhiệm của Tạo Hóa.

Rồi chúng cười đùa cợt nhả trước tòa phán xét Vĩnh Hằng, chẳng hay biết rằng khi thời đại tham lòng lên ngôi thì cũng đồng nghĩa với mọi việc làm, suy nghĩ dù là nhỏ nhặt nhất cũng luôn mang theo cái gọi là "đồng lõa", đồng tội, đồng Nghiệp phản bội Đấng Thiên Cổ.

- - -

Phản Ki Tô - Anti Christ

Không ngờ rằng đến chung cuộc, câu hỏi sát hạch của Độ Kiếp Đại Thừa Kỳ này lại được đưa ra một cách đơn giản như vậy.

Nếu muốn tiếp tục sống trong chuỗi hệ thống cung ứng (mua và bán) tham lòng - tức phản Tự Nhiên, kháng Thiên Cổ, thì chỉ cần nhận dấu 666/ mã vạch/ QR code/ ... mà nhà nước và những đơn vị có thẩm quyền ban ra.

Còn nếu muốn không như vậy thì không nhận, bằng bất kể giá nào dù có phải chết.

Thế thôi!

Đề bài tưởng như đơn giản, đã được mặc khải từ thủa nao nào, con người có bao nhiêu thời gian để mà suy ngẫm, chuẩn bị...

Cái gì cũng thừa, đại thừa kỳ mà! Cho nên cũng thừa đủ mọi kế hoạch đi tắt, đánh vòng. Đủ mọi thử thách được dựng lên, đủ mọi kịch bản được đạo diễn bởi Ma đạo - để cốt sao cho càng nhiều người thi trượt lần này càng vui.

Không phải tự nhiên mà trước khi rời đi, Thiên Đế chợt ngộ Thiên cơ này và đã quán triệt tư tưởng của Tiên chúng tuyệt đối không được mua bán gì. Có thể trao đổi, tuyệt đối không được buôn bán. Kẻ nào mua, bán bất kể thứ gì đều bị trục xuất khỏi Tiên giới ngay lập tức. Lệnh ấy đã được thi hành nghiêm ngặt từ vạn năm nay rồi. Miền hạ thì không kể, vì họ không có hay chưa có quy ước hay khế ước tiên thân với Đại Đạo Vĩnh Hằng. Nhiều tiên nhân hạ phàm liên tục để phổ độ tư tưởng này song vẫn là vô ích. Bởi tập quán buôn bán đã ăn sâu quá đỗi vào tư duy con người rồi. Phàm cái gì miễn phí thì không được coi trọng...

Khi mà cái mạng con người hay con gì cũng có thể mua và bán dễ như trở bàn tay... Ấy là lúc Ma Đạo đã lên ngôi, Ma tính điều khiển cả thiên hạ này đã nằm ngoài vòng kiểm soát của Tiên Giới. Thời điểm mà Thiên Đế trở lại cũng đã gần kề. Tuy nhiên vẫn không một ai hay biết tung tích của Ngài ở đâu. Ai ngờ Thiên Đế vẫn đủng đỉnh không màng gì thế sự, coi như vai trò của mình không phải là gì to tát. Mặc cho nhân cõi ngày càng hô to kêu cầu danh Christ...

Có lẽ cũng để tránh chuyện gian lận, cóp bài, trông cậy vào "phao cứu sinh" Christ, trong kỳ thi quan trọng của tất cả này.

Để tiêu tốn thời gian trong lúc chờ đợi chuyện phải đến ắt sẽ đến, có lẽ Thiên Đế đang quán tưởng và suy ngẫm sâu sa về những chiếc xương sườn bởi ngài đã quyết định theo "ca" này đến cùng.

- - -

CHIẾC XƯƠNG SƯỜN SỐ 7

Theo Kinh Cựu Ước của Do Thái giáo và Ki-tô giáo, Eva là người nữ đầu tiên được Thiên Chúa dựng nên từ một chiếc xương sườn số 7 bên trái của Adam. Bà được Adam gọi là 'Bà Mẹ Chúng Sinh'.

Do nghe lời của con rắn, bà đã ăn trái cấm nơi vườn địa đàng (vườn Eđen), sau đó cũng đã đưa cho Adam ăn theo, gây nên tội tổ tông cho loài người. Eva có con là Cain, Abel, Seth,... Truyền thống Kitô giáo sơ khởi gọi Đức Mẹ Maria là "Eva mới".

•   ☆   •
I. THEO THÁNH KINH

Sách Sáng thế cho chúng ta biết: Thiên Chúa đã tạo dựng trời đất vạn vật trong sáu ngày. Sau khi đã hoàn tất việc tạo dựng, Thiên Chúa mới dựng nên con người để làm chủ những gì Chúa đã dựng nên. Sách Thánh chép: “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật. Rồi Đức Chúa là Thiên Chúa trồng một vườn cây ở Eden, về phía đông, và đặt vào đó con người do chính mình nặn ra” (St 2,7-8)

Con người đầu tiên đó chính là Adam. Thiên Chúa truyền cho Adam rằng: “Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn, nhưng trái của cây cho biết thiện ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chăc chắn ngươi sẽ phải chết” (St 2,16-17). Nhưng ở trong vườn địa đàng, Adam vẫn chưa thấy hạnh phúc, còn trống vắng, hình như còn thiếu cái gì đó, nên Đức Chúa là Thiên Chúa phán: “Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó”.

Đức Chúa là Thiên Chúa lấy đất nặn ra mọi dã thú, mọi chim trời và dẫn đến với con người, xem con người gọi chúng là gì, thì tên nó sẽ là thế.
Con người đặt tên cho mọi súc vật, mọi chim trời và mọi dã thú, nhưng con người không tìm được cho mình một trợ tá tương xứng. Đức Chúa là Thiên Chúa cho một giấc ngủ mê ập xuống trên con người, và con người thiếp đi. Rồi Chúa rút một cái xương sườn của con người ra, và lắp thịt vào. Đức Chúa là Thiên Chúa lấy cái xương sườn đã rút từ con người ra, làm thành một người đàn bà và dẫn đến với con người. Con người nói: “Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì được rút ra từ đàn ông” (St 2,18-23).

II. TẢN MẠN VỀ CHIẾC XƯƠNG SƯỜN

Thượng Đế đã tạo ra người đàn bà từ chiếc xương sườn của người đàn ông!

Kinh Thánh đã viết thế, không ai chối cãi được. Chúng ta không thể nào dùng khoa học tối tân của thế kỷ 21 để bài bác điều ấy. Dĩ nhiên, Kinh Thánh chỉ mô tả việc tạo dựng ấy theo một hình ảnh cụ thể và bình dân như thế cho người ta dễ hiểu chứ không phải là một mô tả theo khoa học có tính cách vật chất hoàn toàn. Điều duy nhất chúng ta phải tin là Chúa đã dựng nên bà Eva bởi xương thịt ông Adam, để bà làm trợ tá cho ông. Chúng ta không biết Thiên Chúa đã rút ra cái xương sườn thứ mấy của ông Adam, nhưng chúng ta ta tạm gọi là chiếc xương sườn thứ 7 của ông vì nó ở gần trái tim hơn cả. Và điều đó nói lên tình yêu của hai người thắm thiết bền chặt.

Đàn ông vẫn thường tự hào rằng phụ nữ được tạo ra từ chiếc xương sườn thứ 7 của mình, mà đàn ông thường rất tham lam, họ đâu dễ dàng để ai cướp mất thứ gì của mình. Chính vì vậy mà đàn ông luôn đi tìm kiếm những thứ đã bị lấy mất và phụ nữ chính là sự mất mát đầu tiên mà người đàn ông bị tước đoạt bởi Thượng Đế. Nhưng Thượng Đế cũng đâu có bất công với họ, thậm chí ưu ái là đàng khác, lấy có một cái xương mà trả lại cho cả một người phụ nữ.

Phải chăng Thượng Đế cũng là người đàn ông nên mới có sự trao đổi “hời” như vậy?

Xét cho cùng so với đàn ông bây giờ thì tổ tiên chúng ta ngày xưa là ông Adam cũng hơn hẳn về sự kiên nhẫn, ít ra Adam còn đợi đến lúc Thượng Đế tự nguyện trả lại cho mình “chiếc xương sườn số 7”, còn đàn ông bây giờ là phải “đi tìm”. Trong suốt cuộc tìm kiếm của mình người đàn ông đã gặp biết bao chiếc xương sườn và chắc cũng đã làm đau không ít những chiếc xương sườn không phải của mình.

Có những người đàn ông gặp, nhìn ngắm, suy ngẫm để xem đó có phải phần mất đi thực sự của mình hay không. Nhưng cũng có người vội vàng “lắp thử” vào cơ thể mình để rồi đau đớn nhận ra rằng nó không phải là của mình, kẻ thì “lắp bừa” với quan niệm “thử”, không trúng thì thay cái mới, những người như thế không biết có nên gọi là người không? Vì rằng y học có phát triển đến đâu đi nữa thì con người cũng đâu có thể tránh được nỗi đau khi thay ra lắp vào nhiều lần như thế!

- - -

Truyện: Chiếc Xương Sườn Thứ 7.

Vào một đêm bầu trời đầy sao và trăng tròn vành vạnh… nói chung là rất thơ mộng, lãng mạn. Chàng trai đã hỏi cô gái:
- Em có biết câu chuyện về chiếc xương sườn thứ 7 không?
Cô gái đáp:
- Có ai đang yêu mà không biết về câu chuyện đó đâu anh!
Chàng hỏi tiếp:
- Vậy em có biết tại sao Thượng Đế không dùng xương tay, xương chân hay xương bả vai để tạo ra người phụ nữ?

Làm sao mà cô gái có thể biết được khi nó là thứ võ khí vô hình mà chỉ những người như chàng trai mới hiểu được.
Ôm cô gái thật chặt, chàng trai thì thầm:
- Nếu Thượng Đế dùng xương bả vai thì người phụ nữ sẽ phải gánh gồng cực nhọc, nếu dùng chân thì người phụ nữ sẽ phải mệt mỏi trên những chặng đường xa, và nếu như Thượng Đế dùng tay thì phụ nữ sẽ phải làm việc cực nhọc.
- Thượng Đế đã chọn chiếc xương sườn thứ 7 mà không phải là bất cứ chiếc xương nào khác cũng như các bộ phận khác vì chiếc xương đó đặt dưới cánh tay để được người đàn ông che chở, đặt trên đôi chân để được đưa tới những miền đất lạ đầy hoa thơm quả ngọt và đặc biệt nó nằm cạnh trái tim để được yêu thương.

Anh chàng nói tiếp:
- Em biết không, em chính là chiếc xương sườn thừ 7 mà anh tìm kiếm, anh sẽ che chở và yêu thương em suốt cuộc đời.
Cô gái ấy rất hạnh phúc khi nghe người yêu của mình nói những lời ngọt ngào đầy thi vị đến thế.

Người đàn ông nhất định phải đi tìm cái xương sườn của mình đã bị mất nơi người đàn bà. Công việc tìm kiếm này phù hợp với câu Thiên Chúa đã nói sau khi dựng nên người đàn bà: “Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” (St 2,23).

Hôm nay anh X đã tìm được cái xương sườn của mình nơi chị Y và chính thức kết hợp với nhau để thành một đôi vợi chồng. Hai anh chị đã trở nên một xương một thịt rồi. Hãy gắn bó với nhau cho bền chặt để không gì có thể tách biệt hai người ra được. Và giờ đây, anh chị hãy ký với nhau một hôn ước để nhận nhau làm vợ làm chồng trước mặt vị đại diện Hội thánh và cộng đoàn giáo xứ. Anh chị hãy đọc lời tuyên thệ nhận nhau làm vợ làm chồng và hứa sẽ giữ lòng chung thủy với nhau khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe để yêu thương và tôn trọng nhau mọi ngày suốt đời mình.

Anh chị có ý muốn thề hứa trung thành với nhau mãi mãi hay chỉ một thời gian thôi?
Anh chị có dám coi hôn ước chỉ là tờ giao kèo tạm thời để rồi tùy hoàn cảnh mà xử lý để “hay thì ở, dở thì đi” không?

Muốn cho đời sống hôn nhân được bền chặt, anh chị hãy thực hành lời thánh Phaolô tông đồ gửi cho giáo đoàn Côlossê:
“Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau” (Cl 3,12-13).

Có người bạn gái đã chia sẻ tâm tìm với bạn trai thật ngọt ngào:
“Tình yêu đến với em thật bất ngờ. Tưởng chừng như mới đó nhưng đã 5 năm rồi anh nhỉ. Cám ơn Thượng Đế thật nhiều vì đã mang anh đến với em, cùng em chia sẻ mọi niềm vui, an ủi em mỗi khi em buồn và luôn luôn ở bên cạnh chăm sóc em. Và em biết rằng mình đích thực là chiếc xương sườn của anh. Mình sẽ mãi hạnh phúc anh nhé”.

Lời tâm sự thật dễ thương!
Lời tâm sự thật êm ái và ngọt ngào. Nếu tâm tình này kéo dài suốt cả cuộc đời thì hạnh phúc cho cô biết bao!
Nhưng đường đời không bằng phẳng, cuộc đời cũng có sóng gió bão táp, phải kiên trì và nhẫn nại thì mới đứng vững được.

- - -

Truyện: Phải Chăng Lầm Lẫn?

Cô gái đang yêu hỏi bạn lòng:
- Anh nói đi, anh yêu ai nhất trên đời?
- Em, đương nhiên là em.
- Trong tim anh, em sẽ là gì đối với anh?
Chẳng phải nghĩ ngợi lâu, chàng trai nhìn sâu vào mắt cô, chậm rãi nói:
- Em là mảnh xương sườn của anh. Kinh Thánh chép rằng Thượng Đế thấy Adam đơn chiếc, cô quạnh; vì thế, đang khi Adam ngủ say, Ngài bóc một mảnh xương sườn của Adam và tạo thành Eva. Từ thiên cổ tới nay, mỗi gã đàn ông đều đi tìm lại mảnh xương sườn thất lạc của mình. Chỉ khi nào thấy đúng mảnh xương sườn của mình, hắn mới không còn cảm thấy nỗi đau dai dẳng trong tim.

Cô ôm chầm lấy anh. Chưa bao giờ cố thấy ngọt ngào đến thế!
Sau đám cưới, đôi lứa sống êm đềm, hạnh phúc một thời gian… Thế rồi, những bận bịu mưu sinh hằng ngày, nhưng âu lo không bao giờ dứt trong cuộc sống, và vì một ngàn lý do này hay vì một triệu duyên cớ nọ - mà vốn xưa nay có cả ngàn, cả triệu nguyên nhân như thế trong từng gia đình - hai người bắt đầu nảy sinh lục đục, cằn nhằn, càm ràm, chì chiết lẫn nhau. Hòn đất ném đi, hòn chì ném lại. Mỗi lần một chút, mỗi lần một tăng thêm cường độ.

Rồi chuyện gì đến phải đến.
Một hôm, sau trận cãi vã dữ dội, chẳng ai chịu nhường ai, chị vừa khóc vừa gào lên:
- Anh không thương yêu gì tôi!

Gã đàn ông buột mồm, như một phản xạ:
- Cưới cô chẳng qua là lầm lẫn! Cô đâu phải là mảnh xương sườn của tôi. Ước gì tôi chưa từng gặp cô.

Ly nước hắt xuống đất rồi, làm sao hốt lại!
Nhìn vẻ mặt chị lúc ấy, gã đàn ông hối hận, nhưng vì tự ái, quá tự ái, hắn chỉ lầm lì bỏ nhà ra ngoài tìm một quán rượu.

Rồi họ chia tay. Lời cuối cùng chị nói trong nước mắt:
- Thôi, đừng làm khổ nhau nữa. Hãy tìm lại đúng mảnh xương sườn của anh đi.

Ngày nay nhiều gia đình đã xuống cấp. Phong Trào Ly Dị lan tràn khắp nơi. Người ta coi thường gia đình, nhiều người coi gia đình chỉ là một cái tổ hợp, hay một cái quán trọ, muốn ở thì ở, muốn đi thì đi. Người ta xem nhẹ Tính Cách Thánh Thiêng của Bí Tích Hôn Nhân. Nhân dịp này, chúng ta hãy nhắc lại những đặc tính của hôn nhân Công giáo. Hôn nhân công giáo có hai đặc tính, đó là đơn hôn và vĩnh viễn, nghĩa là hôn nhân một vợ một chồng, và có tính cách vĩnh viễn, không bao giờ được ly dị.

Khi hai người đã cử hành hôn phối hợp pháp và thành sự thì dây hôn phối trở nên bền chặt, không ai có quyền tháo gỡ vì Chúa đã phán: “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19,6).

Lm. Giuse Đinh Lập Liễm
Giáo xứ Kim Phát
Đà Lạt
•   ☆   •

Cuộc đời của 1 người phụ nữ từ khi sinh ra cho đến khi chết đi mỗi giai đoạn đều mang hình bóng của 1 người đàn ông...
Ngày qua ngày phụ nữ luôn chăm sóc cho người đàn ông của mình không đơn giản chỉ là trách nhiệm và nghĩa vụ mà lớn hơn hết chính là Tình Yêu Thương!!!

YOU ARE MY SUPPER MAN...
Có 1 người đàn ông viết cho vợ mình 1 lá thư với tất cả tình yêu và lòng cảm ơn, nhưng tiếc rằng đây là lá thư cuối cùng...
Vì người ta tìm thấy xác của anh lúc kẹt trong chiếc xe tải đã gây tai nạn... bàn tay đầy máu nắm chặt bức thư:

Vợ yêu quý của anh, đây là 1 bức thư không người đàn ông nào muốn viết, nhưng vẫn còn may mắn là anh sống đủ thì giờ để viết nó, để nói với em điều mà bao lâu nay anh quên không nói với em là “anh yêu em nhiều lắm”.
Trong tất cả những năm tháng rong ruổi trên đường xa, anh biết là những lời cầu xin bình an của em luôn dành cho anh, luôn theo bên anh...
Nhưng lần này chúng đã không còn đủ sức để bảo vệ anh nữa...
Anh đang bị thương nặng, anh đã đi chặng đường cuối cùng của đời mình và anh muốn nói với em những lời mà lẽ ra trước đây anh phải nói rất nhiều lần, những lời đã bị quên không nói chỉ vì anh mải mê chăm sóc chiếc xe và kiếm tiền.
Anh đang nghĩ đến những tối cô dơn em ngủ một mình và tự hỏi anh đang làm gì? Anh đang ở đâu?
Anh đang nghĩ về tất cả những lần anh định gọi điện về cho em yên tâm nhưng lại thôi. Giờ đây lòng anh đang rất bình yên khi nghĩ về em và các con an toàn ở nhà và đang đợi anh.
Anh đang nghĩ đến những bữa cơm tối với gia đình mà em phải xin lỗi giùm anh với các con về sự vắng mặt của anh... vì anh đang bận xem xét các bộ phận của xe, anh đang ngủ để sáng hôm sau phải đi sớm, anh luôn có lý do.
Nhưng giờ anh đã nhận ra chúng chẳng mấy quan trọng đến nỗi phải vắng mặt trong bữa cơm gia đình.
Anh luôn hãnh diện khi biết về nhà sẽ có em thức để chờ anh, dù là 2 giờ khuya hay 2 giờ trưa thì em vẫn đẹp như ngôi sao điện ảnh.
Em biết không? Em đẹp lắm!
Anh nghĩ là dạo này anh không mấy khi khen em, nhưng thật sự anh thấy em rất đẹp.
Trong đời anh, anh đã làm nhiều điều sai nhưng có 1 điều anh đã hoàn toàn đúng đó là đã lấy em làm vợ.
Em luôn ở bên anh và lo lắng cho anh!
Em yêu, anh yêu em và cũng rất yêu các con, thân thể anh đau nhiều, nhưng tim anh còn đau hơn thế, anh sẽ không được nhìn thấy mặt em và các con sau chuyến đi này.
Lần đầu tiên từ lúc mình có nhau, anh cảm thấy đơn độc và thực sự rất sợ...
Anh cần em biết chừng nào?
Và anh biết đã quá muộn rồi, anh nghĩ cật lực khi vào giờ phút cuối cùng này bên anh chỉ có chiếc xe tải, cái xe khốn kiếp đã điều khiển cuộc sống của hai đứa mình bấy lâu nay, cái khối sắt anh đã sống với nó bao năm tháng vậy mà nó không biết đáp lại tình yêu của anh...
Em đang ở hàng ngàn dặm xa xôi nhưng anh cảm thấy giống như có em ở bên cạnh.
Nói với các con rằng anh rất yêu chúng và đừng để con trai mình lái xe tải kiếm sống.
Em yêu, anh nghĩ là đã đến lúc rồi, anh yêu em biết bao. Hãy tự chăm sóc và nên nhớ là anh yêu em hơn tất cả mọi thứ trên đời này.
Anh lại vừa quên không nói với em: 'Anh yêu em'...
Đây là một câu chuyện có thật!
Các bạn ạ, những mỹ từ mà người ta có thể không để ý đến, hay nghe hoài sẽ nhàm như "anh yêu em" tưởng chừng rất quen thuộc nhưng lại rất mới và rất cần thiết trong tình yêu.
Các boy đã có girl yêu thương của mình hãy nhìn vào câu chuyện ấy mà yêu thương hơn nhé!!!
Bởi vì những người phụ nữ bạn yêu thương sao cứ phải đợi 1 năm được mấy ngày lễ, dịp này dịp kia thì mới nhận được những lời lẽ yêu thương???
Hãy yêu thương họ mọi lúc mọi nơi vì chỉ thật đơn giản với 1 câu "Anh yêu em" là đã đủ lắm rồi...
Chúc các bạn may mắn!

•   ☆   •





 



Wednesday, October 2, 2024

C86: Những Lời Tiên Tri

Chương 86: Những Lời Tiên Tri

Tiên Tri là nhìn thấy hoặc hiểu trước một việc trước khi việc đó xảy ra.

Nhân cõi thường coi những lời tiên tri là một sự huyền bí lạ lùng. Cơ chế hoạt động của những lời tiên tri ra sao thì phàm nhân không biết, còn thiên giới có hẳn một bộ ban ngành chuyên nghiên cứu những lời tiên tri từ thời thượng cổ đến đời hạ ngươn. Truy lùng từ việc ai, ở đâu, khi nào, trong hoàn cảnh gì ... mà nói nên những lời tiên tri ấy. Giống như làm toán vậy, logic chính xác đến từng con số. Đầu têu ra bộ môn tiên tri bói toán từ xa xưa là các vị chuyên coi quỹ đạo của các vì tinh tú. Vì rảnh quá nên ngày này qua tháng nọ ngồi đếm sao trời và xem nhật nguyệt. Xem miết nên nhắm mắt cũng biết được khi nào trăng tròn hay khuyết, khi nào các vì sao thẳng hàng hay chênh lệch, vận hành theo quy luật, quỹ đạo nhất quán qua bao nhiêu nghìn năm. Rồi từ đó chiêm nghiệm được những tác động tới vạn vật ra sao do ảnh hưởng từ năng lượng của các thiên thể to lớn đó. Vũ trụ vận hành theo quy luật, chính bởi cái gì cũng có quy luật cho nên mới có thể từ đó mà đưa ra những khả năng, dự trù. Như là: Nếu phương trình f(x) thì cho ra bao nhiêu nghiệm vậy...

Cũng không hiếm chuyện xưa nay có những sự mê tín dị đoan một cách kinh khủng. Chỉ bởi một lời nói trước ngẫu nhiên mà khiến cho bao sự chấp trước trùng trùng duyên khởi. Có vị tiên còn bảo rằng cả thiên hạ này là một đại mê tín không hồi kết. Còn có vị tiên bảo, cả thiên hạ này là một giấc mơ, ảo mộng hồng trần mà khi Thiên Cổ Đế tỉnh mộng thì hồng trần cũng tan biến... Khi ấy Thiên Cổ Đế tập hợp lại mọi linh hồn ngài từng sinh ra, giống như cha mẹ gọi con về nhà vậy!

Tín là tin, niềm tin thì có tội tình gì đâu mà không cho người ta được tin, được mê/ mơ một điều gì đó là tốt đẹp, là cao thượng, thánh thiện!
Ví dụ như: Đức Phật Thích Ca đã giải thoát hoàn toàn khỏi Luân Hồi Khổ, hay Đức Chúa Jesus đã được sinh ra từ Đức Mẹ Đồng Trinh...

Mặc cho những lời tiên tri về tận cùng cái thế gian này là hủy diệt điêu tàn, là những gì kinh khủng nhất. Hắn vẫn cứ đánh một giấc no say ngày hôm nay. Ai bảo rằng đủng đỉnh không phải là một đức hạnh? Nếu ai cũng có thể thực sự trung dung nhởn nhơ mà sống thì trần đời này quả là an vui rồi!

----------------------------------

TRUNG DUNG TÂN KHẢO
Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ
QUYỂN I: TRUNG DUNG KHẢO LUẬN

Chương 8
KHAI THÁC TRUNG DUNG

Bây giờ đọc Trung Dung ta sẽ thấy nó rất hay rất rõ. Nó hay nó rõ, vì ta đã san bằng được mọi khó
khăn về từ ngữ, ta đã gỡ được mối tơ vò tính mệnh, và nhất là ta đã nắm được chìa khóa Trung Dung của
hai vua Nghiêu, Thuấn:
«Lòng của Trời siêu vi huyền ảo,
Lòng con người điên đảo ngả nghiêng.
Tinh ròng chuyên nhất ngày đêm,
Ra công ra sức giữ nguyên lòng Trời.»

Chu Hi đề tựa Trung Dung như sau:
«Trung ấy là không nghiêng, không ngửa,
Dung ấy là muôn thuở y nguyên.
Trung là đạo chính mọi niềm,
Dung kia là lý hiển nhiên mọi đời.
Tâm pháp này truyền nơi cửa Khổng,
Ông Tử Tư sợ chóng sai ngoa,
Bút thần tay thảo thiên hoa,
Muôn vàn truyền lại Mạnh Kha sách này.
Sách mới thoạt trình bày một lẽ,
Sau dần dần mới tỏe thành muôn,
Cuối cùng thu lại một nguồn.
Tung ra tản mạn khắp muôn phương Trời,
Thu cuốn lại dấu nơi ẩn áo,
Hay sao, hay kỳ ảo khôn cùng.
Đó là thực học chính tông,
Ai say tìm hiểu sẽ thông ý màu.
Thông ý màu rồi sau ứng dụng,
Dùng cả đời cũng chẳng hề vơi.»

Chu Hi đã cho ta thấy đại ý Trung Dung: «Thể duy nhất, dụng vẹn thù». Căn nguyên chỉ một mà tác dụng hiệu quả muôn vàn. Đồng thời Chu Hi cũng đã gợi cho biết Trung Dung là một triết học cao siêu, một phương pháp lý luận rất có mạch lạc. Ta có thể nói: Thoạt tiên, Trung Dung dùng phương pháp diễn dịch như Descartes: Từ một duyên do căn bản suy ra ngàn vạn sự, ngàn muôn kết quả.[1] Trong phần thứ hai của sách, có thể nói được là Tử Tư dùng phương pháp qui nạp như Bacon, đi từ những kết quả tạp thù vô số kể mà trở lại nguyên nhân cũ. Nguyên nhân và
kết quả đều gồm trong hai chữ Trời và Thành. [2] Trời phát quang huy, chiếu ảnh tượng người vào đáy lòng nhân loại.[3] ảnh tượng ấy vừa là thực thể cho tâm hồn dựa nương, vừa là tính mệnh (vie) vừa là mệnh lệnh (ordre, loi), cũng vừa là đạo (voie). Ảnh tượng Trời đó hoàn thiện và quang minh tuyệt đối. Trung Dung đã khéo mô tả bằng hai chữ «thành,minh».[4] Trong chương đầu Trung Dung, Tử Tư đã xác định căn bản tâm hồn con người; đồng thời dạy luôn cả đạo làm người:

«Bản tính cũng chính là thiên mệnh
Đạo là noi theo tính bản nhiên.
Giáo là cách giữ đạo nên.
Đạo Trời giây phút vẫn liền với ta.
Rời ta được đâu là đạo nữa.
Thế cho nên quân tử giữ gìn,
E dè cái mắt không nhìn,
Tai nghe không nổi cho nên hãi hùng.
Càng ẩn áo lại càng hiện rõ,
Càng siêu vi càng tỏ sáng nhiều,
Nên dù chiếc bóng tịch liêu,
Đã là quân tử chẳng xiêu lòng vàng...» [5]
 
Trời xa, nhưng quyền phép ngài siêu việt, vẫn soi sáng tâm khảm của trần gian. Trời tuy xa nhưng vẫn giáng lâm, vẫn tại diện tiền không giây phút nào ngơi. Đó là niềm tin tưởng then chốt cốt cán của Đạo Nho, và của các thánh hiền Trung Hoa qua các thời đại. Tác giả Trung Dung nhắc tới lòng tin tưởng đó ở đầu, giữa, và cuối sách Trung Dung. Cả chương 16 của Trung Dung viện dẫn sự tin tưởng của muôn dân về thần quyền để minh chứng sự giáng lâm của Thượng đế.

Trung Dung viết:
«Quyền phép thần linh oai hùng khôn xiết,
Nhìn chẳng ra, nghe cũng chẳng thấy gì,
Nhưng vẫn lồng vào vạn vật chẳng phân ly,
Khiến chay tịnh tâm hồn, những chành áo xống,
Mời cho làm những việc tâm thành thờ phụng,
Man mác lẽ, như phảng phất ở trên,
Linh lung, như mường tường ở hai bên.
Thần giáng lâm lúc nào ta đâu có biết,
Cớ sao ta dám bơ thờ khinh miệt?
Thật siêu vi nhưng vẫn hiển hình,
Thật hoàn hảo, không giấu nổi oai linh.» [6]

Tác giả Trung Dung khuyên ta nên theo phương pháp loại suy (raisonnement par analogie) mà tìm ra căn bản tâm hồn ta, tìm cho ra đạo làm người, để cho nhân tâm hết ngả nghiêng, cho đạo tâm siêu vi được tận hiển dương, tiến tới thế trung hòa muôn thuở.

«Khi chưa phát vui, thương, mừng, giận,
Gọi là trung vì chẳng ngả nghiêng.
Phát ra đúng tiết, hợp duyên,
Ấy là hòa tấu ấm êm nhạc Trời.
Trung ấy chính muôn đời căn bản,
Hòa kia là đạo quán thiên thu,
Ước gì đạt thế trung hòa,
Ấm êm Trời đất, nhởn nhơ muôn loài.» [7]

Chu Hi bình giảng thêm:
«Nguồn đạo ấy phát từ Thượng đế.
Chẳng đổi thay, chẳng thể biến rời,
Hoàn toàn sẵn có nơi người,
Một giây một phút chẳng rời khỏi ta.» [8]

Và khuyên:
«Quay vào ta mà tìm đạo ấy
Tìm đáy lòng sẽ thấy chẳng sai.
Dẹp tan cám dỗ bên ngoài,
Căn lành sẵn có đồng thời khuếch sung.» [9]

Một khi con người được giác ngộ, tin có Trời ngự trị trong tâm khảm mình, chứng giám những điều ẩn áo nơi đáy lòng mình, và lo hoàn thiện mình để tiến tới sự phối hợp giữa tâm và tính, nhân tâm và đạo tâm, khi ấy con người sẽ trở thành quân tử. Mục đích của đạo Trung Dung là phối hợp thiên ý với nhân tâm, tính với tình, nhân tâm và đạo tâm, cho nên là một đạo rất cao diệu. Đức Khổng nói:

«Đạo Trung Dung cao siêu, toàn mỹ,
Theo Trung Dung hồ dễ mấy ai.
Ta biết đạo Trung Dung thi hành khó,
Người sắc sảo, quá trớn đi đã lỡ,
Kẻ ngu đần, chậm chạp khó khuôn theo.
Ta biết đời chẳng hiểu đạo cao siêu:
Người hiền đức ỷ mình không suy xét,
Kẻ bất lương trông vào thì mù mịt.
Uống ăn kia ai cũng lấy làm thường,
Nhưng mấy ai sành mùi vị tinh tươm?» [12]

Mục đích Trung Dung là phát triển cho đến cực độ mầm mống hoàn thiện sẵn có nơi đáy lòng mình, theo thiên tính thiên lý sẵn có nơi mình mà phát huy ra ba đại đức, ba nguồn sáng tinh thần: Trí - Nhân - Dũng. Trí là khôn ngoan. Khôn ngoan như vua Thuấn, biết Trời, biết Người, biết thăm dò xét hỏi, biết «ẩn ác dương thiện». Trí để phục vụ đạo lý, chứ không phải trí xảo của người đời.[13] Đức Khổng nói:

«Ai cũng nói ta đây tài giỏi,
Trên đường đời rong ruổi ngược xuôi;
Sa vào cạm bẫy người đời,
Sa hầm, sụp hố, thoát thôi dễ nào.
Ai cũng ỷ tài cao, biết rộng,
Theo Trung Dung chẳng đặng tháng Trời.» [14]

Nhân là nhân đức nội tâm. Nhân như Nhan Hồi luôn lo lắng làm điều thiện, cho gương lòng vằng vặc sáng lên như đèn Trời, chứ không phải nhân đức lộ liễu bên ngoài của thế nhân. Những người có tài cán gan góc, vị tất đã là những người nhân đức, vị tất đã theo nổi đạo Trung Dung.

«Người có thể trị yên thiên hạ,
Người có gan từ bỏ vinh hoa,
Gươm trần người dám bước qua,
Trung Dung đạo ấy khó mà người theo.» [15]

Dũng không phải là cái dũng vũ phu, mà chính là cái dũng tinh thần của người quân tử, là cái dũng của bậc đạo hạnh: nếu «Xét thấy lương tâm mình ngay thẳng, thì dầu đối với hàng ngàn muôn người vẫn đi qua một cách an nhiên.» [16]

Ba đức «nhân, trí, dũng» đó đều mầm mống trong đáy lòng mọi người; chân lý muôn trùng hằng ẩn áo trong tâm khảm mọi người. Thánh hiền là những người có công khuếch sung trí nhân dũng cho tới mức cao siêu, tuyệt diệu. Vì thế đạo Trung Dung như hạt sồi của Lamartine,[18] lúc nhỏ chưa sinh sôi nảy nở thì rất tầm thường, nhưng khi đã triển dương tới mức độ lớn lao, thì trở nên thiệt uy nghi, cao đại.

Theo Trung Dung đạo Trời có hai đầu: Một đầu thì ẩn ảo huyền vi, tiềm ẩn ở tít tận đáy lòng, còn một đầu thì mênh mông bát ngát. Lúc sơ phát thì ẩn áo siêu vi, nhưng lúc đạt đạo tới chỗ chí cùng chí cực thì vĩ đại.

«Đạo người quân tử mênh mông,
Đồng thời ẩn áo, mông lung khó dò.»

Tác giả Trung Dung viện dẫn Kinh Thi để làm nổi bật những nét mênh mang và ẩn áo đó:
«Diều tung cánh sát từng mây biếc,
Cá dương vây lặn miết đáy sâu.» [20]

Rồi tác giả khuyên ta nên tung tầm mắt mà quan sát vạn vật đất Trời để tìm cho ra đại đạo. Quan sát đất Trời ta thấy gì? Ta sẽ thấy:

«Ngoài nội chim kia còn chấp cánh,
Trên lương yến nọ chẳng lìa đôi
Từng mây kết ngãi lưng Trời...» [21]
Đôi chim ríu rít, đôi người chắt chiu.

Đầu Kinh Thi, ta đọc thấy:
«Quan quan thư cưu, tại Hà chi châu,
Yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu.» [22]

Trung Dung viết:
«Đạo quân tử từ nguồn phu phụ,
Tung mãi ra trùm cả đất Trời.» [23]

Đạo phu thê là đạo phu xướng phụ tùy, để đi đến chỗ sắc cầm hòa hợp. Còn Trời đất thì lúc nào cũng quấn quít lấy nhau, hưởng ứng nhau. Trời che, đất chở, Trời sinh, đất dưỡng. Đầu đất là chân Trời. Vòng càn khôn lúc nào cũng hiện ra nơi nhãn giới. Suy ra, thì trong đạo làm người, tâm phải thuận theo tính, tâm phải biết phục mệnh. Nếu tâm theo tính, nếu nhân tâm phục tòng thiên mệnh, thì tức là theo đúng đạo xướng tùy, hòa hợp của đất Trời. Thế là Âm theo Dương, bóng tối nhường gót cho ánh sáng, sự chết nhường chỗ cho sự sống. Thế là Dương sinh, Âm dưỡng, Dương sinh, Âm trưởng. Tâm hồn sẽ tài bồi cho mầm tính nở tung muôn hoa đức hạnh, tâm hồn sẽ phả quang huy của vừng dương thiên tính, sẽ biến hóa theo đúng Đạo Trời.

[Khi đạt đạo, mảnh trăng lòng sẽ thoát ly hết mọi mây mù dục vọng, sẽ viên mãn, như vầng nguyệt hôm rằm, tung hết mọi làn ánh sáng đã thụ hưởng được của vừng dương thiên lý. Thế là Âm Dương phối hợp trong thế trung hòa của Thái cực. Thế là «nhật nguyệt đồng minh» thành chữ Dịch muôn đời.[25] Vậy muốn hiểu đạo Trung Dung, phải hiểu chỗ thấp, chỗ cao, chỗ gần, chỗ xa. Chỗ đắc đạo, đạt đạo là Trung Dung.

Trung đạo «dữ Thiên đồng đức», chí thành, chí thiện. Chỗ đạt đạo thì bao trùm hết không gian, thời gian, rực rỡ ngàn trùng. Chỗ khởi điểm chỉ là một tàn lửa thiên lý, thiên chân, thiên mệnh, ẩn áo nơi đáy lòng. Chỗ đạt đạo thì chỉ bậc chí thánh mới vươn lên tới, nhưng con người đạo lý mở rộng chờ đón mọi người, và thực ra khởi điểm của nó cũng dung dị tầm thường, dầu ngu phu, ngu phụ cũng vẫn hay biết và có thể thi hành được
như thường.[26]

Quan điểm Trung Dung phù hợp với Đạo Đức Kinh của Lão Tử:
«Muốn làm những việc khó khăn.
Phải từ chuyện dễ đi lần mới xong.
Muốn làm những việc kỳ công,
Phải từ việc nhỏ mới mong hoàn thành.» [27]

Vậy thì đạo Trời tuy rất khó, nhưng chính ra rất giản dị. Chúng ta chỉ việc làm những công việc thông thường hằng ngày, không cần lập dị, «sách ẩn hành quái».[28] Đối với mọi người thì nên khoan dung, độ lượng, mà uốn nắn cho qui hướng về đường thiện mỹ:

«Người quân tử khi lo giáo hóa,
Sửa trị người sẵn có khuôn người.
Thấy người giác ngộ thì thôi,
Đã chiều cải hóa, liệu bài ta ngưng.» [29]

Còn đối với mình, thì lúc nào cũng cúc cung tận tụy thi hành phận sự, coi người như mình; đối với ai cũng cố vẹn tình, vẹn nghĩa, hết lòng, hết dạ:
«Đối với người hết lòng, hết dạ,
Coi mọi người cũng cả như mình.
Thế là sắp tới tinh thành.
Việc mình thoái thác chớ dành cho ai...» [30]

Tìm bí ẩn làm điều quái dị.
Cốt mong cho hậu thế người khen
Xá chi chuyện ấy nhỏ nhen,
Đã là quân tử chẳng thèm quan tâm.»

Muốn thành người quân tử, chúng ta phải:
«Tu đức hạnh, hành vi thường nhật,
Nói năng luôn đúng mực căn cơ.
Hành vi khiếm khuyết nên lo,
Nói năng thái hóa, liệu mà bớt đi.
Lời nói với hành vi phù hợp;
Nói làm sao, làm khớp như in;
Lòng người quân tử triền miên,
Thấp tha, thấp thỏm, mới nên công trình...» [31]

Nếu thời thường, lo hàm dưỡng tính tình, trau dồi óc chất như vậy, thì trí, nhân, dũng sẽ như ngọn lửa, ngày một lan cháy rực Trời, như nguồn lai láng, tràn ngập năm hồ bốn biển.[32] Ngu phu, ngu phụ nếu ra công tu tâm, dưỡng tính cũng có thể nên người quân tử, nên gương cho nhân loại
soi chung; nếu người quân tử biết tu thân, hàm dưỡng khuếch sung tính tình thì có thể nên những trang hiền thánh, chẳng kém gì Nghiêu, Thuấn, Văn, Võ, Chu công.

«Đạo quân tử như in lữ thứ
Muốn đi xa phải tự chỗ gần.
Đạo người như cuộc đăng san,
Muốn lên tới đỉnh, đầu đàng là chân.» [33]

Chân là ngu phu, ngu phụ, mà đỉnh thì là đại thánh, đại hiền. Gần là chuyện làm cho gia đình ấm êm, hòa hợp. Xa tít tắp là chuyện quốc chính dân an, lo sao cho mọi người được sống những ngày thanh bình, tươi đẹp. Thấp là những chuyện tình ái thông thường giữa những vợ chồng, mà cao là nền luân lý phổ quát, bao gồm hết cương thường. Cao hơn nữa là đạo thánh hiền, «dữ Thiên đồng đức», vượt tầm không gian, thời gian, trường tồn cùng với càn khôn, vũ trụ.

Nhờ sự tu thân tích đức, tâm hồn người hiền thánh rạng tỏ dần, và khi long vân gặp hội, khi đức cả đã cảm ứng được đất Trời, sẽ đạt tới địa vị cao sang tuyệt phẩm. Vì thế giữa sách, Trung Dung đề cập tới sự cao cả, vinh quang của các đấng đại thánh, đại hiền. Trung Dung viết:

<Không nghỉ ngơi nên sẽ vững bền.
Vững bền muôn vẻ trưng lên,
Trưng lên vang dội khắp miền gần xa.
Khắp gần xa ắt là dày rộng,
Đã rộng dày thời cũng cao minh.
Rộng dày để chở chúng sinh,
Cao minh che khắp sinh linh xa gần.
Trường cửu để tác thành muôn vật,
Rộng dày nên cùng đất sánh duyên.
Cao minh kết ngãi thanh thiên,
Vô biên, vô tận triền miên khôn cùng.
Được như vậy không trưng vẫn tỏ,
Tuy ở yên, biến hóa khôn lường,
Không làm mà vẫn thành công...» [49]

Khi đạt tới giai đoạn «Thiên nhân nhất quán», giai đoạn huyền đồng, thánh nhân sẽ được phối hợp với Trời, thông phần vinh hiển cao diệu của Trời.Trung Dung viết:

«Chỉ có đấng chí thánh trong trần thế,
Mới có đầy đủ thông minh trí tuệ,
Y như thể có Trời ẩn áo giáng lâm,
Mới khoan dung, hòa nhã, ôn thuần,
Y như có dung nhan Trời phất phưởng;
Phấn phát tự cường, kiên cương, hùng dũng,
Y như là đã cầm giữ được sức thiêng.
Trang trọng khiết tinh, trung chính, triền miên,
Y như thừa hưởng được đôi phần kính cẩn,
Nói năng văn vẻ, rõ ràng, tường tận,
Y như là chia được phần thông suốt tinh vi.
Mênh mang sâu thẳm, ứng hiện phải thì,
Mênh mang như khung Trời bao la, vô hạn,
Sâu thẳm như vực muôn trùng thăm thẳm...» [50]

Bậc chí thánh đó sẽ vì đời sang sửa đại kinh:
«Chỉ những đấng chí thánh trong thiên hạ,
Mới có thể vì đời sang sửa đại kinh.
Mới có thể xây căn bản cho xã hội quần sinh,
Mới thấu rõ luật đất Trời sinh hóa...» [51]

Các ngài sẽ tiên tri, tiên đoán, biết trước những công cuộc hưng vong, suy thịnh của quốc gia...[52]
Đạo Trung Dung lúc đạt tới cùng cực, thực là mênh mông, bát ngát:

«Đạo thánh nhân to sao, to lớn quá,
Nó mênh mang, biến hóa chúng nhân.
Nó cao, cao vút tới Trời thẳm muôn tầm;
Nó rộng, rộng bát ngát khôn kể xiết.
Gồm thâu mọi điều lễ nghi, chi tiết.
Bao uy nghi quán triệt hết chẳng trừ.
Đợi thánh nhân, Trời mới phú thác cho,
Không đức cả, Trời không ngưng đạo cả.» [53]

Đạo đó, con đường hoàn thiện đó là con đường cho quân tử noi theo:
«Nên quân tử dốc một lòng, tòng một dạ,
Trọng kính Trời, quyết gắn bó học hành.
Tiến sao cho tới mức rộng rãi, tinh anh,
Mức cao sáng của Trung Dung đạo cả,
Ôn điều cũ, học thêm điều mới lạ,
Chuộng lễ nghĩa, sống đời sống nết na.
Ở ngôi cao, không có thói kiêu xa,
Ở cấp dưới, không làm điều trái nghịch,
Nước có đạo, chỉ một nhời làm tiến ích,
Nước đảo điên, lặng lẽ đủ dung thân...» [54]

Tóm lại đạo quân tử mới đầu ngỡ tầm thường, giản dị, nhưng dần dần mới thấy nó thật chứa chan ý vị, đầy vẻ đẹp tươi, và mênh mông, bát ngát. Nó khởi điểm từ chỗ biết kính sợ e dè, dẫu ở một mình nơi thanh vắng cũng chẳng dám làm điều gì đáng để hổ người, để tiến tới chỗ «dữ Thiên đồng đức» chỗ hoàn hảo tuyệt vời. Đó là đại ý đoạn kết sách Trung Dung:

«Thơ rằng:
Gấm mặc trong, ngoài phủ áo sa,
Là vì ngại gấm đầy hoa lòe loẹt,
Nên đạo quân tử ám nhiên ẩn ước,
Sau dần dà mới sáng rực mãi lên;
Đạo tiểu nhân mới ngó ngỡ là đèn,
Nhưng càng ngày càng tối đen, tối xẫm.
Đạo quân tử đạm thanh, không ngán ngẩm,
Đơn sơ nhưng chan chứa vẻ đẹp tươi;
Thuần phác nhưng lý sự chẳng kém ai.
Biết xa gần, biết nguyên lai bản mạt
Biết lẽ vi hiển, vừa rỡ ràng, vừa e ấp,
Là có thể bước vào nẻo đức đường nhân.

Thơ rằng:
Cá tuy lặn sâu thẳm mấy tầm,
Nhưng bóng dáng vẫn rõ ràng, hiển hiện.
Nên quân tử lo xét mình cho chín,
Đừng cho tội khiên làm u ám thâm tâm.
Người quân tử vượt trổi quá chúng nhân,
Chính ở chỗ mọi người trông chẳng đặng.

Thơ rằng:
Chái tây bắc một mình thanh vắng,
Cũng đừng làm chi đáng để hổ ngươi.
Nên quân tử không làm vẫn thu phục lòng người,
Chẳng nói năng, nhưng ai nấy đều tin tưởng.

Thần thánh giáng lâm, không một lời động dạng,
Nhưng mọi người tuyệt nhiên hết tranh giành.
Nên quân tử không thưởng, mà dân vẫn đua tranh,
Không giận dữ, mà người sợ hơn oai rìu búa.

Thơ rằng:
Văn Vương chẳng phô trương đức độ,
Nhưng chư hầu đâu đấy vẫn khuôn theo.
Người quân tử nếu dốc một dạ kính yêu,
Đạt đức cả, thiên hạ lẽ tất nhiên thịnh trị,

Thơ rằng:
Ta muốn đức rạng ngời, sáng tỏ,
Không cần chi lớn tiếng hay làm bộ ra oai.
Đức Khổng nói dùng miệng lưỡi, hay kiểu cách bên ngoài,
Cảm hóa dân, lối ấy rất nên thô thiển.

Thơ rằng:
Đức nhẹ như lông;
Lông còn có bề hơn kém,
Đức Trời cao, siêu việt chẳng tăm hơi,
Thực là hoàn hảo tuyệt vời.» [56]

--------------

Ngoại truyện: Lúc đêm khuya thanh vắng giữa ngu phu và ngu phụ:

Ngu Phu đang chuẩn bị rơi vào giấc ngủ và đã bắt đầu ngáy khò khò ...
Ngu Phụ vẫn đang trằn trọc lăn qua lăn lại, nghĩ ngợi vu vơ rồi lay lay hỏi một chủ đề cũ mãi không chán:

- Nếu chàng chết trước ta thì ta nên làm thế nào với cái xác của chàng?!

- Đem đốt thôi! Nhà mình thiếu gì củi...

- Ta không biết làm! Đốt không cháy hết thì kinh lắm, trông như miếng thịt hun ấy...

- Hừ, cũng phải... đốt phải thật nóng mà mùa hè nóng thì mệt. Hay cứ quẳng dưới đống sắt vụn, nhà mình đầy sắt vụn lo gì ...

- Sao thế được, hức hức nó bốc mùi lên ...

- Quẳng xuống sông xuống biển cho cá ăn vậy!

- Hừ, không được! Ta sẽ mummify chàng! Để đi đâu cũng đem theo đó!

- Ừ ừ thế nào cũng được, đấy là chuyện cuối cùng ta quan tâm. Linh hồn còn sống mãi, lo cho cái xác chết làm gì~

- Tốt nhất là ta chết trước chàng, như thế chàng phải lo cho cái xác ta, còn ta đỡ phải lo cho cái xác chàng. Ta đỡ phải buồn ...

- Thế cũng được!

Ngu phụ vẫn không buông tha, không bằng lòng với câu trả lời đó.

- Vậy chàng định làm thế nào với xác ta nếu ta chết trước?

- Ta sẽ đem nàng về quê rồi chôn cạnh cha nàng.

- Tại sao? 

- Để linh hồn nàng cảm thấy yên bình...như thế nàng an nghỉ tốt hơn..

Phu đã rơi vào giấc ngủ hẳn còn phụ vẫn đang mơ hồ suy nghĩ. Mãi sau nói thêm một câu:

- Tốt nhất là cùng chết! Ta sẽ cầu trời để chúng mình được cùng chết vậy.

Wednesday, July 17, 2024

C85: Những Nỗi Sợ Hãi

C85: Những nỗi sợ hãi

Ai đã làm cha mẹ đều biết phải bao công lao khó nhọc mới sinh ra và dưỡng nuôi được một đứa trẻ. Lại một lần cho bú, chắt chiu từng giọt sữa, từng dưỡng chất tinh túy nhất của người mẹ. Lại một lần tã ướt phải thay, hàng chục lần tã ướt phải thay trong ngày. Lại một ngày dài chăm bẵm hát hò, ru con bồng bế. Lại một ngày vội vội vàng vàng ăn cuống ăn cuồng để lại có mặt khi con khóc. 365 ngày đầu đời của một đứa trẻ chỉ quanh đi quẩn lại là trung tâm vũ trụ của gia đình. Nếu là mẹ hoặc cha đơn thân, không có ai khác ngoài chính mình chăm sóc con thì vất vả đến nhường nào? Lại nữa, thời mà không có tã bỉm "vứt đi", phải thay giặt phơi phong liên tùng tục, ngày nắng đã vậy, ngày mưa thì sao? Giàu có đã vậy, nghèo nàn thì sao? Biết bao cố gắng từng ngày của cha của mẹ, nâng niu chăm sóc hy sinh mọi điều vì con.

... Để rồi, khi con người lớn lên cứ thế chết như ngả rạ trên những bãi chiến trường vô nghĩa, trong suốt nhiều thời đại, nhiều quốc gia, hoặc chết mòn trong những vòng lặp bế tắc của đời cơm áo. Những kẻ giàu thì cứ giàu mãi còn những kẻ nghèo thì cứ nghèo mãi, phần đa là thế. Từ lâu người ta gắn chữ "nghèo" với chữ "khổ", cũng là phải bởi vì những ai chưa từng nghèo thật sự thì không thể biết được nó khổ đến thế nào. Nghèo đến nỗi không có miếng cơm, miếng nước, manh áo, đến nỗi không có thời gian để thở. Đầu tắp mặt tối quần quật làm lụng mà vẫn không đủ cho mình và gia đình ... nheo nhóc!

Mấy ai tự nguyện và thích thú được nghèo khó khổ cực? Mấy ai nhớ rằng khi sinh ra, mình chỉ là một mớ thịt èo uột, yếu ớt, trần trụi, chẳng thể làm gì ngoài khóc. Nếu không vì được mẹ cha hay ai đó chăm bẵm từng ngày thì chẳng có mảy may sinh tồn được hay chỉ tự hào về bản sự, sự nghiệp, tài sản những vật ngoài thân?

Mấy ai vui trong cảnh nghèo, vui trong cảnh khổ? Người ta luôn sợ cái nghèo, phòng bị, tìm cách tích trữ, dành dụm bằng cách này hay cách khác đất đai, vàng bạc, cơ ngơi, ... để còn thừa kế, truyền lại cho con cháu.

Có một thí nghiệm rất thú vị liên quan đến nỗi sợ hãi. Chứng minh rằng mọi sinh vật đều thừa hưởng những ADN cảm xúc (thọ tưởng) từ tổ tiên mình. Người ta thử nuôi những con giun đất và khi cho ăn thì làm điện giật chúng chỉ đủ đau chứ không giết chết, cùng lúc ấy họ bật sáng bóng đèn. Qua vài lần điện giật đồng thời bóng đèn sáng, đến một lúc dù không giật điện nữa mà chỉ bật đèn, giun vẫn có phản xạ giật nảy người và co quắp như bị điện giật. Họ quan sát thấy những lứa giun sau được sinh ra bởi những con giun ấy cũng có phản xạ giật y như thế khi chỉ bật đèn. Thậm chí khi họ nghiền chúng thành thức ăn và cho những con giun khác ăn cũng khiến chúng hình thành phản xạ co giật tương tự chỉ với bóng đèn.

Kết luận rằng có sự liên hệ vô cùng mật thiết giữa thể xác và thể vía (cảm xúc) chứ chưa nói đến trí khôn hay trí tuệ. Khi những con giun bị điện giật chúng cũng biết đau và nỗi sợ đau hình thành (sợ là một dạng cảm xúc cơ bản nhất đến thực vật cũng có). Khi thế hệ ông bà cha mẹ có những nỗi sợ hoặc nỗi đau nào, tất nhiên đời con cháu sẽ có cùng một dạng cảm xúc ấy từ trong vô thức - di truyền dạng thể này không phải là di truyền thể xác nhưng còn đặc thù hơn nhiều những di truyền vật lý.

Nếu cả một quốc gia từng chịu cảnh nghèo đói, chiến tranh, khổ cực... nếu cả một thế hệ chịu cảnh nô lệ không có sự tự do, bị bạo hành vũ lực đàn áp, bị giận dữ la hét đánh đập thì đời con cháu cũng mang theo những mã gen như vậy.

Lại nói đến thịt động vật, có cái chết nào mà dễ chịu nhẹ nhàng, chẳng hề đáng sợ, không đau đớn khi trở thành thức ăn cho kẻ khác. Con người hay con gì ăn vào những sự đau đớn sợ hãi thì cũng dần trở nên đầy sợ hãi như loài vật vậy.

Con người luôn có vô vàn những nỗi sợ. Sợ hãi dẫn đến lo lắng. Lo lắng rồi lại sợ hãi, quẩn quanh trong những vòng lặp lo sợ ... đến nỗi mụ mị đầu óc, chẳng còn tâm trí đâu nghĩ tới những gì là vô hạn, những gì trong thế giới tinh thần hào phóng ra hoa.

Có những kẻ không sợ gì, chẳng sợ trời chẳng sợ đất, không sợ chết, cũng chẳng sợ giết người, phạm tội xấu ác bất kể. Những kẻ ấy thực ra là rất gần với Thiên Cổ Đế, rất gần với Tình Yêu Thương không ngăn ngại, không sợ hãi ... nếu xa lìa mọi mộng tưởng điên đảo...

Vậy nên Thiên Đế Con mới nói: "Ta đến không phải vì những người công chính mà cho kẻ có tội"

Rồi mới có phép - lễ "rửa tội" tổ tông - tội từ thủa hồng hoang xa lắc xa lơ có hai người đầu tiên phạm phải !

Đời này đời nọ, A Đường luôn lo sợ rằng hắn là kẻ vô dụng, sống đời vô nghĩa. Hắn cứ chăm chăm làm sao để khỏi trở nên bất tài vô dụng, phải chăng bởi ông bà cha mẹ hắn cũng từng có nỗi sợ dai dẳng ấy trong những đời sống mỏi mòn ở trần gian... Hắn nghiên ngẫm thiên kinh vạn quyển, cốt chỉ mong tìm được một diệu kế cho giấc mộng tang bồng, giấc mộng tái sinh vô ưu nào.

Song không thể! Chừng nào thiên hạ còn ưu sầu, hắn còn ưu tư, quằn quại, co quắp, hệt như những con giun trong thí nghiệm kể trên. Chỉ vì đã quen với những cơn đau nên phản xạ vô điều kiện!