Thursday, July 6, 2023

C68: Xác Con Chim Nhỏ

Chương 68: Xác Con Chim Nhỏ

A Đường ở hạ giới trong một kiếp nọ, bởi lý do nào đó mà đã cam chịu cảnh "chim lồng cá chậu". Khi ấy sinh ra trong thân nữ. Phận nữ chẳng có việc đại sự gì quan trọng ngoài "sinh sự", "sinh sản". Nghĩ vậy hắn bèn lao vào hôn nhân đại sự cho nhanh gọn lẹ, cho yên bề gia thất, cho gia đình cũ bất khả nghĩ bàn, bất khả xen ngang hay can thiệp vào cuộc đời hắn nữa kể từ lúc đó. Hắn cho rằng kết hôn theo pháp luật là con đường cứu cánh tối thượng, giải pháp triệt để. Hắn rất thích Pháp Luật, thường lôi Pháp Luật ra mà nói, hắn đủ tuổi rồi, mẹ (cũng là cha) không có QUYỀN can thiệp, không liên quan tới bất cứ chuyện gì hắn làm. Thậm chí, một ngày sau khi tròn 18 tuổi, hắn lò dò bén mảng tới văn phòng Luật Sư, với ánh mắt bẽn lẽn mà sắc nhọn, nghiêm túc hỏi người đại diện cho pháp luật việc này:

"Khi một người đã đủ 18 tuổi thì cha mẹ có quyền ngăn cấm người đó làm gì hay không? Ví dụ như bỏ nhà ra đi, ra ở riêng, sống tự lập ở nơi khác..."  

Không chỉ hỏi một nơi mà còn đi tham khảo ý kiến rất nhiều nơi, nhiều chỗ, nhiều người. Rốt cục lắm thầy nhiều ma, mộng tự lập tan thành mây khói, kẻ đó vẫn bám váy mẹ tận gần 10 năm sau đó.

Trước khi hạ thủ hành động luôn đều suy đi tính lại, nhìn trước ngó sau, kỹ lưỡng là thế. Song sự ngu xuẩn khó đỡ bao giờ cũng không thể lường trước, tới một cách bất ngờ và đối với kẻ càng tự cho mình là "khôn ngoan" thì bao giờ cũng có thể xảy ra cái ngu bất khả kháng. 

Hắn đã biết ngay từ đầu là ngu đó. Nhưng vẫn cứ muốn tự chứng minh rằng sự ngu của hắn là độc nhất vô nhị, là đẳng cấp đỉnh cao, là nguy hiểm thực sự, là hy sinh quên mình, là một sự ngu có chủ đích - Ngu Tình. Vì vậy không được tính là Ngu. Kết cục tự nguyện dành một đời để gặm nhấm tiêu hóa nỗi ngu hoài.

Kẻ càng muốn trốn tránh khỏi một thứ gì đó thì càng bị chính thứ đó giam hãm cầm tù. Kẻ vốn sợ phải chịu sự can thiệp luôn luôn thì dù có trốn lên trời cũng không thoát khỏi những sự can thiệp bá đạo. Kẻ càng muốn sự tự do ý chí, thì càng bị tước đoạt lấy đi nó, theo cách nào đó, cho đến khi ham muốn ấy trở thành "Thỏa Mãn Tự Tại".

- - -

Hôm ấy hắn vừa bước chân vào lều thì bị kiến đốt tơi bời. Một lúc sau hút bụi thì phát hiện ra xác con chim nhỏ kiến đang bu đầy. Không biết nó chết từ bao giờ, và làm thế nào vào được lều. Cửa lều luôn đóng hai lớp và kéo khóa hẳn hoi. Chẳng nhẽ hàng xóm đùa ác lẻn vào lúc người vắng nhà? ... Hay là có lúc hắn đi ra ngoài đã quên không kéo khóa cửa, nên chim lẻn vào?

Bất kể thế nào, cái xác chim nhỏ bị kiến bu đầy trong lều, theo nghĩa đen đó, khiến hắn rùng mình suy ngẫm. Phải chăng dự cảm về tương lai của hắn kiếp này có thể đúng. Không lâu trước đó hắn từng viết một câu chuyện về Chim và Vua trong cảnh giới huyền huyễn đan xen đoạn niệm. Viết xong thì bật khóc và bật cười cùng một lúc.

Con chim nhỏ hay hót này luôn thích bén mảng quanh lều, ra sức hót gọi hắn thức dậy mỗi ngày. Bây giờ nó chết rồi, vẫn còn đầy những con chim khác. Chỉ là hắn không hiểu vì sao nó phải tò mò mà tự chui vào lều làm gì (Quả thực có một hôm hắn đi vắng về thấy cửa lều mở, là hắn quên kéo khóa). Còn có câu thành ngữ người ta nói: "Sự tò mò giết chết con mèo". Không chỉ con mèo mà bất cứ con gì, con chim hay con người cũng vậy.

Dẫu sao, đằng nào cũng chết, chết ra sao có gì là quan trọng? Nhiều khi để học được một điều gì đó, dù là xấu ác hay tốt lành, người ta phải đánh đổi bằng cả mạng sống một đời. Thiện Toàn là một sự phải lòng (Crush) từ thủa còn thơ ấu, thường hiện về trong những giấc mơ hư ảo của hắn. Còn Đại Toàn Thiện là một Mối Tình Thiên Cổ, thường thủ thỉ với hắn khi đang thức, những ước nguyện nào...
 

Crush: nhàu nát, bóp vỡ, vắt ra, nghiền vụn, uống cạn, dày vò, đòn trí mạng
Đồng nghĩa: affection, fondness, infatuation, liking, love, passion

Đường ơi, một kiếp vô thường, cũng là chân thường trân quý.

- - -

Người hướng Đạo mà gọi là Chơn Tu, thì phải thực sự là Chơn Tu, trong khi hầu hết chư huynh đệ trong đời còn chưa thức bổn tâm, chưa hề Quy Chơn cách rốt ráo mà cũng đã gọi là Chơn Tu. Nhận định sai trình tự cho nên mọi cơ sự đều sai hoàn toàn luôn, đâu có cách nào đúng được? Nhưng chỉ cần Đảo Từ, thay vì là Chơn Tu thì là thay đổi trình tự gọi là Tu Chơn, tức là tu sửa hoàn thiện mình, dần triệt thoái - giải phóng - phóng thích mình ra khỏi Phàm Ngã để trở về Chân Ngã của Chính mình, Hiệp Nhất Chính Mình, vậy thì đúng rồi.

Tiếng Việt, thứ tự trước sau là từ trái qua phải mà!

Nếu kiếp này tự bản thân chư huynh đệ xác định phải về, dứt khoát phải Tìm Về Với Chính Mình thôi, vậy thì chắc chắn chư huynh đệ phải thực hiện Tu Chân cho mình cách rốt ráo. Mà đã vậy thì sớm muộn gì thì chư huynh đệ cũng sẽ ngừng làm việc trong thế gian, ngừng sống môi trường sống theo ý thức hệ của thế gian.

Như công việc hiện tại mà chư huynh đệ đang làm vậy, sẽ ngừng, môi trường sống hiện tại cũng sẽ phải ngừng, chỉ có vậy thì Hành Trình Tu Chơn mới rốt ráo được! Tuy nhiên thì khi đang sống ở đâu, tâm ý thức nhận thức của Người Hướng Đạo luôn phải có niệm ý sống cho trọn vẹn ở đó. Lấy chính môi trường sống, công việc mình đang làm để làm thành đề mục tập trung hoàn thành cho tốt nhất trong khả năng có thể, đó cũng là Tu Chơn. Thiền Tông thì gọi các Đề Mục Tu Chân nào đó là các Công Án!

Sống ở đâu cũng hằng luôn tâm niệm trọn vẹn trước sau, Tình Lý Viên Dung chứ không phải là cứ đứng núi này trông núi nọ.
Cái chuyện buông cái này bắt cái kia, tham Đó bỏ Đăng, thấy Trăng quên Đèn... là hoàn toàn không đúng với Đạo rồi!

- - -

Yêu thương, tình thương, tình nhân ái... của thế nhân, tất tật mọi khái niệm về Tình Yêu nằm trong phạm trù của Trần Duyên - Thế Gian Tình, vốn dĩ là vô lượng những bài học tiến hóa hết sức lớn lao dành cho sinh linh, nhân loại nơi đây. Nhưng tuyệt nhiên không hề "giống" một chút nào với Tình Yêu Thiên Thượng - Thiên Tình Bi Ái mà các bậc Chân Sư hay "kinh sách" cổ kim... vẫn thường luôn nói đến!

Thất tình lục dục hay là sự ràng buộc bất kỳ nào của Trần Cảnh, Trần Duyên, cho dù là nhỏ như "hạt vi trần" thôi, cũng đều sẽ có thể tác động tới tâm tư, tình cảm... trong Tam Thể Phàm Ngã - tức là Thân Tâm Trí, bao gồm Lục Căn, Lục Thức, Lục Trần mà ngươi đang tá mượn nơi đây!

Điều ấy, sẽ tất yếu khiến ngươi dễ dàng nảy sinh sự xung đột từ bên trong, dẫn đến xảy ra tình trạng thiên vị, vô hình dẫn đến khả năng mất kiểm soát, lâm vào bản tâm khởi phân biệt đối xử... giữa những gì ngươi yêu thích và ghét bỏ. Chưa hết, trong yêu thích, còn có yêu thích hơn, thậm chí là cuồng si, tín ngưỡng, thần tượng. Và dĩ nhiên, ngay trong ghét bỏ còn có ghét bỏ hơn, thậm chí là thù hận tột cùng, cực đoan tà ác vô song... với những ai mà ngươi mang tâm thù oán!

Những gì tốt hơn, ngươi sẽ dành cho người thân yêu hơn hay là thân yêu nhất của ngươi...

Những gì tồi tệ, hẵn nhiên ngươi cũng sẽ dành cho những ai ngươi ghét bỏ, hận thù...

Thế thì, sao ngươi có chút khả năng nào Công Chính, đối xử công bình đối với tất cả sinh linh?

Thế thì, sao ngươi có thể nào thiết diện vô tư, thậm chí là dám vì nghĩa diệt thân như kiểu dạng: Quân pháp bất vị thân?

Đã vậy, sao ngươi có thể có khả năng trở thành Người Phụng Sự cho Chân Lý?

17.03.2017


Nghiệp ý (cái trí) và nghiệp tâm (tình cảm) nơi Phàm Thể Tam Phân đã TẠO RA tất cả những "hình tư tưởng" đó!

ĐỨC TIN BẤT TỬ VĨNH HẰNG!  

Trao mình cho phán xét!

Điều này không thể nào xảy ra nơi bất kỳ ai, bất kỳ mối quan hệ nào trong cuộc đời này khi mà từng cá nhân chưa có SỰ TIN CẬY hay nói cách khác là chưa có được ĐỨC TIN CHÂN XÁC!

Trong cuộc đời, một người bất kỳ nào đó cũng đều có vô vàn các mối quan hệ khác nhau, giữa người và người, giữa người và sự vật hiện tượng, giữa người và công việc, giữa người và tất tật những gì xung quanh con người đó và giữa người đó và chính bản thân người đó với mối quan hệ NỘI TẠI BÊN TRONG của "những mâu thuẫn nội hàm" mà được hiểu như là tính cách tương ứng với nhiều "nhân cách - con người khác" bên trong chính bản thân mình!

TIN CẬY VÀO CHÍNH MÌNH!
Luôn là LỜI KHUYÊN của Cổ Đức, Thánh Hiền!

Nhưng cái chính mình nào đó, khi "nhìn" vào "bên trong" những lúc "quay về" tĩnh lặng, tĩnh tại, trầm tư... một mình, thì với biết bao là tâm tư tình cảm có thể sẽ nổi lên, biểu hiện thành những "con người" khác trong tâm tư tình cảm chính mình!

NGHE AI ĐÂY trong số tất cả những con người khác đó trong NỘI TÂM mình?

Rồi nào là Lời chư Phật God dạy, lời Chúa, lời Thầy, lời ai đó... hình ảnh Linh Ảnh ai đó, từ cõi "cao" nào đó... như là kiểu dạng "Hiển Linh" tiếng nói của Thần Linh, của Sự Linh Thiêng, Lời Thiêng Liêng Hằng Sống... gì đó, văng vẳng vang lên có vẻ như là từ trong sâu thẳm "rất chi là" trong nội thể "nguồn" tâm mình...

Tuyệt đại đa số đều đang cho đó là SỰ THÔNG LINH và kết nối "câu thông" được với "Chính Mình" ở đâu đó trên "cao" tuốt luốt hay là được câu thông với "thần linh" nào đó và nhận được các thông điệp CÕI "cao" vì mình cũng đã là "cao nhân đắc đạo" gì gì đó rồi!

TÂM
TƯỞNG!
TẠO NGHIỆP!

Nghiệp ý (cái trí) và nghiệp tâm (tình cảm) nơi Phàm Thể Tam Phân đã TẠO RA tất cả những "hình tư tưởng" đó!

Nơi đây, tuyệt nhiên không nói đến đúng hay sai trong các Niệm Tưởng, trong sự Thông Linh câu thông kết nối với các "nguồn" thông điệp.

Chỉ nhắc nhở và NHẤN MẠNH ở chỗ: Cái được THẤY ở "bên trong" nội tâm hay bên ngoài từ ai đó bất kỳ, khi đang trong thân xác con người nơi đây, đều là CÁI CÓ - CÓ THẤY, CÓ NGHE, CÓ CẢM NHẬN, CÓ SUY NGHĨ...

Và đã là CÁI CÓ rồi thì... nào phải là CÁI KHÔNG KHÔNG VÔ NIỆM?

Hãy chấp nhận thực tại là CÓ NIỆM vì nơi đây là cõi của TRƯỜNG CÁI CÓ, biểu hiện thông qua đặc tính của cõi sắc chất, hiện tượng và tất cả mọi biểu hiện, dù có dù không bất kỳ nào trong "niệm" hữu hay vô niệm ở mọi trạng thái, thảy đều KHÔNG PHẢI LÀ CHÂN NHƯ!

CHÂN NHƯ, PHẬT TÁNH, NHƯ LAI TẠNG, BẢN THỂ GOD, THÁNH THỂ CHÍ TÔN, THƯỢNG ĐẾ, THIÊNG LIÊNG... tất cả đều NẰM NGOÀI mọi trạng thái của trí não, của cảm tâm mà Phàm Thể Tam Phân Con Người Nơi Đây "cảm biết" được!

Nói cách khác, TẤT CẢ, TOÀN BỘ, 100% những gì mà ai đó, trong thân xác con người nơi đây thu, nhận, phát... đều KHÔNG PHẢI LÀ CHÂN NHƯ, tức là CHƯA PHẢI LÀ CHÂN LÝ THƯỜNG HẰNG THIÊNG LIÊNG VÔ THƯỢNG!

LOẠI TRỪ TRIỆT ĐỂ mọi cảm tâm biểu hiện nơi phàm thể tam phân này đi, nghĩa là loại trừ hết mọi cái nghe, cái thấy, cái cảm, cái biết... tất tật, thì CHÂN NHƯ là BẢN NGUYÊN TRONG SUỐT VÔ NIỆM, VÔ CẢM, VÔ TRI, VÔ NGÃ, VÔ DANH, VÔ SẮC, VÔ VỊ, VÔ HƯƠNG... HƯ VÔ TOÀN TRIỆT!

Và đó, Hư Vô Toàn Triệt, là điều được TẠM "gán" cho cái DANH mà gọi là ĐẠO THƯỜNG HẰNG BẤT BIẾN, VÔ SANH, BẤT DIỆT!

Bất kỳ AI nơi đây, có thể "chạm" được cái thấy đó, gọi là Kiến Tánh, thực CHỨNG được "thể thái" bất khả tư nghị đó, gọi là CHỨNG ĐẮC VÔ SANH PHÁP NHẪN (Phật Giáo) hay là THẤY ĐƯỢC NƯỚC TRỜI ở "bên trong" tâm tư tình cảm "mình" nơi đây (cách nói của Thiên Chúa Giáo), hoặc là Diện Kiến Nhan Chúa, Bái Kiến được Đấng Thái Thượng Đạo Tổ, được Kề Cận Thánh Tối Cao, TRONG Thánh Thể Đấng Tối Cao...

Và khi ấy, TỰ KHẮC, TỰ NHIÊN, niềm tin của Vị đó, Người đó, Kẻ đó, trở thành ĐỨC TIN CHÂN XÁC và là ĐỨC TIN DUY NHẤT ĐÚNG!

Sự TRAO MÌNH CHO PHÁN XÉT, cũng đồng thời đến, diễn ra, xảy ra - tự động, tự nhiên, hồn nhiên, thánh khiết, không tâm tư, không một niệm, không tính toan, không còn bất cứ ngoại hay nội cảm nào HIỆN TỒN, tác động, làm cho xao động, chao động, biến động!

Trạng thái của VĨNH HẰNG BẤT BIẾN, SIÊU VIỆT, bất khả tư nghị, vô pháp luận bàn, vô sở thuyết - vô ngôn!

Và ĐỨC TÍN, TIN CẬY bấy giờ là TOÀN TRIỆT, VĨNH HẰNG, BẤT BIẾN SIÊU VIỆT MỌI THỜI KHÔNG!

Trạng thái mà nơi đây nói riêng hay trong toàn Tam Giới với Tam Thập Tam Thiên, vô pháp chạm đến, vô phương xúc chạm, xâm phạm, không cách gì, quyền năng gì có thể khiến cho suy hoại được!

ĐỨC TIN BẤT TỬ VĨNH HẰNG!

Với và TRONG Đức Tin Bất Diệt ấy, thử hỏi: Liệu rằng có phán xét nào, hành hạ nào, xúc phạm nào, chà đạp nào, phỉ báng nào, xem thường nào, ác niệm ác hành nào, "Ma Quỷ" bực nào, khổ đau cùng tận nào, cái chết đáng sợ nào, ngục hình kinh khủng nào, có thể CHẠM đến, có thể khiến cho kinh sợ, khiếp nhược, bị hàng phục, bị thâu tóm, bị "xỏ mũi" dắt đi, bị chiếm hữu, bị sở hữu, bị "đoạt xá" như kiểu Ma Quỷ nhập, đoạt hồn, bắt hồn...?

Vĩnh Hằng Bất Diệt?
Là KHÔNG GÌ CHẠM ĐẾN CHO ĐƯỢC HẾT!

Và Hư Vô hoàn Hư Vô, Bản Nguyên tự động Hoàn Nguyên, tự nhiên Hồn Nhiên, vô tư, vô quái ngại, vô cấu, vô cầu, vô niệm, không đến chẳng đi, không thành chẳng hoại, bất Phật vô Ma, không Cha chẳng Chúa!

Vậy, như vậy, mà chính thực là TỰ THỂ CHÂN NHƯ ĐÓ VẬY!
TRUNG NGUYÊN TỰ NHIÊN HỒN NHIÊN THIÊN THÀNH!

Vô ưu, vô sở cầu, vô cấu nhiễm,
Trực nhập Như Lai Tạng, Thái Huyền Vô Thỉ Nguyên Sơ,
Lai Hoàn Vô Nguyên, Đáo Lai - Lai Đáo Tự Tánh Chân Như!
Tự Tại Nhiên Hiển!

Tự giác, tự nguyện TRAO MÌNH, PHÓ THÁC HỒN NHIÊN!

Yêu Thương...
VÔ ĐIỀU KIỆN!
8:46 Oct 9, 2018
 

Tuesday, July 4, 2023

C67: Bạch Dương Thâu Viên

Chương 67: Bạch Dương Thâu Viên

Trường quay có rất nhiều cảnh mà Đạo Diễn thường cận cảnh, đặc tả... Những phim hút khách ở hạ giới thì rất hay có những cảnh "nóng" như hôn hít gì đó. Thiên giới thì không thế. Cảnh nóng nhất trong chuyện liên quan tới A Đường đã qua rồi. Chính là cảnh uống máu ăn thịt. Mà cảnh đầy máu và nước mắt như thế thì chỉ khiến người ta rùng rợn lạnh gáy chứ chẳng thấy nóng ở chỗ nào.

A Đường vốn âm tính. Mỗi khi Thái Âm (Mặt Trăng) vào lúc cực thịnh, âm khí trong hắn bộc phát khiến cả hang động càng tràn ngập một vẻ lãnh khốc u tịch, tưởng như chẳng một hồn ma bóng quế nào dám bén mảng lui tới. Hôm ấy là ngày trăng tròn thứ bao nhiêu không rõ, một huyễn cảnh trong cơn mơ của hắn như thế này:

Trong Vô Cực Chi Không, mọi sự trống rỗng hoàn hảo. Không một sự hay vật gì hiện diện trong tâm hay trí hắn dù cố gắng hình dung hay nghĩ tới bất kỳ một điều gì, sự hay vật, hoặc người nào đó. Trống Không kia lớn lao quá đến nỗi gây sợ hãi. Không một bóng hình, không một hiện hữu, tuyệt đối đơn độc. Hắn khóc lớn, bởi không nhớ được bất cứ một điều gì đã từng xảy ra trong cuộc đời trần gian hay thiên thượng. Không biết hắn là ai, vì sao lại ở đây. Ai đã tạo nên linh hồn trống rỗng của hắn...

Tiếng khóc câm nín trong thinh lặng tột cùng, nên chẳng nhiễu phiền tới một cọng cỏ nào. Hắn ngồi dưới ánh trăng vằng vặc, mắt mở lớn nhìn chằm chằm vào hư không, nhưng không thấy bất cứ một điều gì hết cả. Toàn thân hắn đã lạnh băng và hơi thở cũng không có. Mái tóc rối tung đầy bụi đất và lá cỏ. Ở trong hang có hồ nước nóng nhưng hắn không tắm rửa đã bao lâu rồi không biết.  

Bởi không nghe hay thấy bất cứ một điều gì trong cơn "nhập định" đó, hắn không biết Thiên Đế đã xuất hiện ngay trước mắt hắn khá lâu rồi. Ngài chờ hắn tỉnh lại song hắn đông cứng như cá đông lạnh, tròng mắt con ngươi cũng giãn ra như chết rồi. Thiên Đế bèn vứt hắn vào hồ nước nóng. Trực tiếp truyền sóng vi ba - hỏa quang tam muội khiến mặt hồ sôi sùng sục, đến cả hòn đá trong hồ cũng đỏ lên như tôm luộc.

Khí công cao tầng là thế, tầng công phu truyền nhiệt chỉ là tầng thứ bậc thường mà thôi...

Khi hắn tỉnh lại thì đã thấy Thiên Đế ngồi trên bãi cát, còn hắn ướt sũng trong hồ. Bèn cứ vậy áo quần ướt như chuột lột, bộ dạng lếch thếch mà bước tới. Vừa ngồi xuống, cả bãi cát nóng ran như đổ lửa. Chưa kịp nhúc nhích thì đã nghe Thiên Đế quát: "Ngồi im!"

Sức nóng hầm hập hong khô quần áo chỉ trong phút chốc. Bóng đêm dần qua nhường chỗ cho bình minh ló rạng. Hắn yên lặng ngắm nhìn Thiên Đế đang ngồi nhắm mắt như say ngủ. Mãi khi ngài mở mắt và bình thản nói: "A Đường, đúng đắn hay sai lầm của ngươi cũng là đúng đắn hay sai lầm của ta. Từ đây trở đi, bất kể ngươi làm gì, phải nhớ kỹ điều đó."

Hắn vẫn chưa hiểu đầu cua tai nheo thế nào. Còn đang nghĩ hôm nay là ngày sẽ được thả tự do, Thiên Đế sẽ giúp hắn ra khỏi nơi này... Bất chợt, thấy Thiên Đế ngay trước mặt hắn cất người bay bổng lên, bóng trắng từ từ ra khỏi vòm hang trong ánh nắng mới. Hắn sửng sốt không nghĩ ngợi được gì, cố tập trung tâm ý, niệm niệm bay lên bằng được, nhưng vô ích. Cứ thế lại một ngày dài nữa trôi qua vô vọng.

- - -

Văng vẳng lời nào đó như kể lể một huyền thoại xa vời, ở hạ giới đã có lần hắn từng thoáng đọc mà cười cho rằng không "khoa học":

Kể từ thuở mênh mông mờ mịt chưa chia, Trời Đất còn là một khối hỗn độn, Mặt Trời Mặt Trăng chưa phân, lúc đó Khí Tiên Thiên vô tận, Thánh Phật Tiên hòa cùng một thể, tỏa chiếu vô lượng hào quang xoay chuyển hư không.

Bởi vì địa vị tối cao nên được gọi là THƯỢNG ĐẾ. Vận chuyển tới mức tròn đầy, thì khí tự nhiên phân hóa thành “tam thanh” gồm: Ngọc thanh Nguyên Thủy Thiên Tôn, Thượng Thanh Linh Bảo Thiên Tôn, Thái Thanh Đạo Đức Thiên Tôn. Ba nhân tố “Huyền, Nguyên, Thủy” cùng chung một thể.

Ba cấp bậc khi đã nên sự, thì “tam thanh” phân chia biến hóa sanh hữu hình, khí thanh nhẹ thì bay lên cao, hội hợp làm Trời, mặt trời, mặt trăng và sự xuất hiện này đã hoàn thành tam bảo.

Thiên Tôn, vị ở tam thanh lại biến hóa Ngũ Lão: Đông Hoa Mộc Công, Tây Hoa Kim Mẫu, Nam Hoa Hỏa Tinh, Bắc Hoa Thủy Tinh, Trung Hoa Hoàng Lão, năm lão đã thành, ngũ hành lập xong, khí trược nặng lắng xuống, ngưng tụ thành đất.

Trời đất đã làm nên, nhưng còn thiếu loài người. Vua Trời thuở ban sơ, sinh ra Trời Đất hóa công, cố gắng vận dụng chân khí một cách âm thầm, để phân lập năm phương, thành hình thế giới, nhưng nếu không có con người, thì không thể nối liền tam tài, cho nên Ngài mới ra lệnh cho Ngũ Lão, đem các nguyên linh gieo trồng. Ngũ Lão sau khi nhận lãnh trách nhiệm, liền thúc đẩy Kim Mẫu, Mộc Công lo việc thai nghén các nguyên linh.

Hoàng Lão còn tuyển chọn vùng đất Đơn Khâu, thuộc núi Tu Di, mà kiếm hang động để Hoàng Thổ làm chỗ thụ thai. Thế là việc chế lọng tròn (Trời) đệm vuông (Đất) hay Trời che Đất chở xong xuôi. Mộc Công bèn nấu “ngũ kim”, lọc lấy tinh chất đúc đỉnh ba chân, Kim Mẫu nung “ngũ thổ” lọc lấy thần khí nặn lư Yển Nguyệt.

Sau khi núi nứt nẻ, tinh chất của nước đá Huyền Anh rỉ ra ứ đọng trong lư, liền bỏ chõ đất vào trong, úp đỉnh vàng lên mặt, rồi kiếm củi dâu phương Nam cùng vận dụng chân hỏa nung nấu, lát sau hơi nước ở giữa chốn thái hòa trong đỉnh, ngưng động biến thành nước rơi xuống đáy, khí thoát ra từ dưới bụng chõ lại bay lên, do đó mà nước luôn luôn thăng giáng, đầy ắp cả trong ngoài. Ngũ Lão có thể lặng lẽ mở đóng cửa huyền vi, ngưng kết đơn đầu chuyển đỉnh ấp chõ, ánh sáng tỏa ngập tứ phương, bảy ngày mới thâu hồi Hoàng Lão, Xích Tinh, Thủy Tinh tại chốn cao vời trầm mặc, đưa mắt thần theo dõi.

Kim Mẫu, Mộc Công lại tái lập bếp, đặt chõ lên trên đuổi khí lạnh giá đi, tỏa khí ấm áp xuống. Để thi hành cái tinh túy của Thái Ất, Mộc Công. Kim Mẫu dùng đạo “Kim Dịch luyện hình” để gìn giữ tĩnh dưỡng tinh thần, quên lo toan, bỏ tính toán sống hòa hài, phân định kỳ hạn của các tiết và mùa trong mỗi năm xong, thì mây ngũ sắc phủ đỉnh đầu, sương giọt tưới ướt đẫm mình núi Tu Di. Chợt nghe tiếng động cựa trong đỉnh Mộc Công, Kim Mẫu biết là đơn đã chín, mở nắp xem thấy có hai vật ấp nhau, liền đưa tay nhấc một vật lên xem, thì ra là tượng một hài nhi nam. Mộc Công nhấc vật còn lại lên coi, thì ra là một hài nhi nữ, hai người mỉm cười ra khỏi đỉnh luyện ngũ hành.

Hai con đỏ đó là Bàn Cổ và Thái Huyền Ngọc Nữ, cũng gọi là Á Dương hoặc Hạ Giai ở vào giai đoạn diễn hội giáng trần.

Con người vốn từ đất làm nên, đất nuôi đất dưỡng, cho nên khi chết lại trở về nguồn cội đất. Tạo lập cõi trần xong, anh nhi hài nữ giáng phàm thân thể vốn thanh tịnh, song vì ăn phải trái cấm, tính dục phàm trần kích động, âm dương giao hợp, cho nên loài người từ đấy sinh sản không ngừng.

Lúc chính khí của ngũ hành sinh ra người, khí của nó tiết ra ngoài phân tán khắp gầm Trời, mà sinh ra các loài sinh động, thực vật cùng các giống bay, lặn. Còn như ngũ kim, thảo mộc, nước sông biển, điện quang thạch hỏa, các loại động vật, bụi đất đó đều là nguyên do sự tích nặn đất thổi khí thành người.

Lý do Vô Cực Nguyên Thủy chỉ nhất động mà sinh ra Thái Cực. Thái Cực bao hàm lưỡng nghi âm dương rồi biến thành tam tài (trời, đất, người), tứ tượng, ngũ hành v.v… nhất bản tán vạn thù, cho nên gọi là chúng sinh. Cũng còn kêu là chín mươi sáu ức nguyên linh, ý nói Trời là chín, Đất là sáu bao la vô cùng vô tận, không chỉ giới hạn có chín sáu ức mà thôi.

Ngũ Lão thai nghén sinh sản ra các nguyên linh, cũng vận chuyển chân khí thành ra người đầy đủ ngũ tạng, ngũ khí thịnh được là nhờ công của Ngũ Lão. Loài người trên trái đất màu da không giống nhau, là do ảnh hưởng bởi năm sắc của năm phương: Đông màu xanh, Tây màu trắng, Nam màu đỏ, Trung màu vàng, Bắc màu đen. Cho nên màu sắc giống như đất nung trong lò, vì lửa không đều mới sinh ra các màu khác nhau.

Nguyên linh giáng phàm, ban đầu tính tình thuần phác, lấy lá cây che mình, tâm hồn nhiên như lúc ban đầu, không thắc mắc, không ham sống sợ chết, cho nên lúc chết, dễ dàng siêu thăng cõi Trời. Sau chỉ vì nguyên linh chủng tử sống với đất lâu ngày, thay chất đổi giống, từ thời trung cổ tính linh bắt đầu bị ô nhiễm nặng, cho nên có nhiều kẻ chết không được về Trời, khí ô trược nặng nề chìm xuống, nên Địa Ngục được tạo lập từ đây.

Ngũ Lão ở cõi Trời thấy vậy quá đau lòng, liền triệu tập hội nghị, để họp bàn kế sách thâu hồi. Ngũ Lão mới phân thân giáng phàm, đầu thai đủ năm phương, làm năm vị giáo chủ của năm tôn giáo (Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Hồi Giáo, Nho Giáo, Đạo Giáo), bắt đầu truyền pháp thâu nhận môn đồ. Tới lúc các giáo chủ ngưng phổ độ, rời bỏ trần gian trở về Trời, đa số giáo đồ bỏ kinh bỏ đạo, khiến cho nguyên linh phân tán đạo tâm, sinh linh tương tàn làm thương tổn hỏa khí của Trời Đất.

Kim Mẫu tại cõi Trời Ngũ Lão, xót thương các nguyên linh chủng tử một đi không trở lại, cho nên nay ban lệnh phổ giáng Chân Đạo, quảng độ những người có phước duyên. Qui y Đại Đạo, trở về quê hương xưa nơi Vô Cực Lý Thiên.

- Bạch Dương Thâu Viên

...

Khi ấy hắn chợt thấy một linh hồn nhỏ ở trần gian đang ngước mắt lên trời, thành khẩn nguyện cầu:

"Xác thân này đã là mơ.

Đời sống luôn là một giấc mơ lớn, một giấc Diễm Mộng Huyền Tình

Thật, đã là mơ, thì sẽ đến lúc tỉnh.

Tinh cầu này sẽ được đặt tên.

Đặt lại tên, một cái tên tuyệt đẹp để gợi nhắc chúng sinh sống trong nó về giấc mơ vĩnh hằng mà họ hướng tới.

Là Tình Yêu ...

Đấng Sẽ Đến đang không ngừng bước tới trong ý chí của Tình Thương Vĩnh Hằng. Ngài chờ đợi con người tỉnh dậy khỏi giấc mơ bản ngã chia tách của mỗi người.

Ngài là Âm và Dương đồng hiện. Là Người Bạn, Người Cha, Người Mẹ của Thế Giới.

Và là Người Con của Chân Thường.

Thời gian...

Ôi thời gian! Xin đưa tôi đến gần Ngài không bằng thời gian trần thế mà bởi thời gian tỉnh thức trong tâm khảm vĩnh hằng."

 








Sunday, July 2, 2023

C66: Trời Chẳng Xa Người

Adam và Eva là Não Phải và Não Trái trong mỗi con người.

Hai bán cầu não xử lý, phụ trách những điều khác nhau. Người thiên về não phải, người thiên về não trái, cũng có người cả hai não quân bình.

Thượng giới có những vị tiên chuyên tu luyện cả hai não. Luyện đến độ bất phân trái phải thì có thể nhập ma tẩu hỏa (thổi ra lửa). Thoạt nhìn không thấy được nội sự đang diễn ra giữa Adam và Eva trong đầu não của họ, nhưng chỉ cần chăm chú một chút sẽ thấy những vị đang có xung đột, chiến tranh lạnh hay "bạo lực gia đình" thì mắt họ bị lé. Mắt to mắt bé, hoặc mắt tinh mắt mờ, nhiều người ánh mắt thất thần, nhìn mà như không nhìn...

Điều đó chứng tỏ Adam đã cho Eva ăn đòn, não phải đã đàn áp thống trị não trái. Hoặc Eva đã dụ Adam ăn bậy uống bạ, để rồi bị trục xuất ra khỏi Địa Đàng. Người thượng cổ viết nên câu chuyện Adam và Eva hẳn phải có bộ não giàu trí liên tưởng và lãng mạn vô cùng. Nói bóng nói gió mà cứ như thật vậy.

Chương này bê nguyên tiêu đề và nội dung một bài luận nhỏ trong rất nhiều bài mà vị tiên nọ đã soạn trong những ngày rộng tháng dài ở hạ giới: "Trời Chẳng Xa Người", cốt để phổ cập Đại Đạo khắp Đông Tây Kim Cổ Ấn Âu ... cho dân Việt biết chữ là đọc được. Vô cùng tổng hợp, dễ hiểu, logic mạch lạc. Mỳ ăn liền bổ dưỡng đủ chất. Chế nước sôi sẵn rồi, chỉ việc ăn thôi, mời dùng tận miệng, miễn phí cho không, sẵn tiện bất cứ lúc nào "xơi" cùng được. Vậy mà những "chân tài thực học" ở miền hạ cũng vẫn còn chưa đụng tới, hay chưa quan tâm tới. Bởi vì còn mải quan tâm những chuyện sexy gợi cảm nào.

    

http://nhantu.net/TonGiao/TroiChangXaNguoi.htm 3/21

 
Kính thưa quí vị,

Hôm nay được Quí liệt vị danh cho vinh dự đặc biệt đến đây hầu chuyện cùng Quí vị, tôi hết sức cảm kích. Nên lời nói đầu tiên của tôi là xin chân thành cảm tạ Quí vị. Quí vị đã có lòng ưu ái đối với tôi, tôi cũng xin đáp lại bằng ba chữ Thành, Kính, Ái. Thành là lòng thành khẩn của tôi. Kính là lòng kính trọng của tôi. Ái là lòng quí mến của tôi đối với Quí vị.

Đề tài «TRỜI CHẲNG XA NGƯỜI», mà hôm nay tôi muốn thuyết trình cùng Quí vị, là một đề tài hết sức đơn giản, đơn giản như tấm lòng trung thực của tôi; lời lẽ mà tôi dùng để trình bày vấn đề cũng là những lời lẽ đơn sơ trung thực; những ý kiến tôi đưa ra hôm nay, tôi cũng muốn cho nó trong sáng như ánh trăng sao.

Tất cả những ý tứ, những lời lẽ mà tôi trình bày, phát biểu hôm nay, tôi còn muốn lồng chúng vào trong những cảm tình thành khẩn, đẹp đẽ nhất của tôi, để chúng trở nên những đóa hoa thơm gởi tặng Quí vị. Thảng hoặc mà lực bất tòng tâm, sự thể không theo được lý tưởng, thời kính mong Quí vị lượng thứ.

Trong bài thuyết trình này, tôi sẽ dùng lời lẽ thánh hiền các đạo giáo, những chứng lý của triết học, khoa học để dẫn chứng cho những lời của tôi.Tôi nghĩ rằng: Đại Đạo thời phải lớn, lớn trùm cả khung trời! như lời Đức Lý Thái Bạch, trong bài thơ Hành lộ nan,[2] và như vậy nó không còn có không gian, thời gian, biên cương, hay màu da, sắc áo.

A. TRỜI CHẲNG XA NGƯỜI: Một chân lý làm nền tảng cho các đạo giáo

Sau nhiều năm suy tư và tìm kiếm, tôi đã tạo cho mình một niềm tin vững mạnh này là: Cái chân lý làm nền tảng cho các đạo giáo cũng như cho các công cuộc tu trì của con người chính là quan niệm TRỜI CHẲNG XA NGƯỜI.

Điều đó thật dễ hiểu: Nếu Trời, nếu Đạo «vô sở bất tại» theo lời Hạng Bình Am, hay ở khắp mọi nơi theo từ ngữ công giáo thì làm sao mà Trời có thể xa con người được? Nếu Trời chẳng xa người, thì dĩ nhiên Trời phải ở gần con người. Trời gần, không phải là Trời ở trong vùng mình, trong khu phố mình, trong gia đình mình, mà thực là Trời đã ngự trị trong lòng mỗi một người chúng ta. Ta có thể dùng lời lẽ thánh hiền chứng minh điều đó.

Sách Tính Lý viết: «Trời với người đối với nhau như hai mặt trong ngoài.» [3] Vương Dương Minh cho rằng Trời ở ngay trong lương tâm mọi người. Vì thế Ông mới nói: «Tâm tức là Trời … Lương tri tức là Trời.» [4] Cụ Nguyễn Đình Chiểu, một vị thạc nho Việt Nam, cũng đã tìm ra được chân lý ấy. Cụ viết trong Ngư Tiều vấn đáp y thuật:

«Có Trời thầm dụ trong lòng,
Tuy ngồi một chỗ suốt thông trăm đời.»

Cụ lại viết thêm:

«Vậy thời theo lẽ an phần,
Trăm năm nhờ mạng, trong thân có Trời.» [5]

Các bậc hiền nhân quân tử trong đạo Nho, vì có niềm tin tưởng sâu xa rằng Trời chẳng xa người, nên dầu ở một mình nơi vắng vẻ cũng vẫn e dè kính sợ. Trung Dung viết:

«E dè cái mắt không nhìn,
Tai nghe không nổi cho nên hãi hùng.
Càng ẩn áo lại càng hiện rõ,
Càng siêu vi càng tỏ sáng nhiều.
Nên dù chiếc bóng tịch liêu,
Đã là quân tử chẳng siêu lòng vàng.»

(Trung Dung, chương I)

Kinh Thi viết:

«Chái Tây Bắc góc nhà thanh vắng,
Đừng làm chi đáng để hổ ngươi.
Đừng rằng tăm tối chơi vơi,
Đừng rằng tăm tối ai người thấy ta.
Thần giáng lâm ai mà hay biết,
Nên dám đâu khinh miệt, dễ ngươi.»

(Mao Thi, Đại Nhã Ức Thiên)
 

Nhìn sang phía đạo Lão, ta cũng thấy có chủ trương tương tự. Nam Hoa Kinh viết: «Trời ở bên trong, người ở bên ngoài.»[6] Trong truyện Đông Du bát tiên, có chép: «Hán Chung Ly và Lữ Đồng Tân hỏi Tào Quốc Cựu: «Ông tu luyện ra sao?» Tào Quốc Cựu nói: «Lòng mộ đạo thì lánh trần, chớ không có phép chi hết.» Hai tiên hỏi: «Đạo ở đâu mà mộ?» Tào Quốc Cựu chỉ Trời. Hai tiên hỏi: «Trời ở đâu?» Tào Quốc Cựu chỉ cái tim. Hán Chung Ly cười rằng: «Lòng là Trời. Trời là Đạo, đã biết cội rễ, tu chắc thành tiên.»

(Cf. Đông Du bát tiên, cuốn 4, tr.32).

Quan niệm Trời chẳng xa người, mà Trời ở ngay trong lòng con người, được Áo Nghĩa Thư của Ấn Độ giáo lấy làm đề tài chính yếu, từ năm nghìn năm nay. Svetasvara Upanishad viết:

«Chân tâm nhỏ tựa ngón tay,
Lồng trong vạn vật muôn loài thụ sinh.
Tâm thần trí lự bao quanh,
Ai mà biết được sẽ thành thần tiên.» [7]

Mundaka Upanishad viết:

«Biết rằng trong dạ có Trời,
Rối ren, ngu muội tức thời tiêu tan.» [8]

Svetasvara Upanishad viết:

«Dung quang Ngài khó mà cầu,
Mắt trần sau trước thấy sao được Ngài.
Biết Ngài trong dạ ấy ai,
Tâm thần biết thế muôn đời trường sinh.» [9]

Ramakrisna, vị đại thánh Ấn Độ gần đây, cũng nói: «Bao lâu bạn cảm thấy Thượng Đế xa bạn, thì bấy lâu bạn còn u tối. Nhưng nếu bạn nhận chân rằng Thượng Đế ở trong bạn, thì bạn đã đạt được sự khôn ngoan thật.» [10]

Đạo Phật tránh dùng chữ Trời, nhưng dùng chữ Như Lai, mà Như Lai chính là «vô sở bất tại», hoặc dùng chữ «Nguyên Thường», tức là Căn Nguyên hằng cửu. Đấng «vô sở bất tại», Căn Nguyên hằng cửu, bất biến bất dịch làm chủ chốt cho mọi cuộc chuyển biến của vạn vật, vạn hữu, nếu không phải là Trời thì là gì? Kinh Kim Cương viết:

«Như Lai chẳng ở đây ở đó,
Chẳng đi đâu, chẳng có đến đâu.» [11]

Nếu vậy thì:
«Như Lai ở sẵn lòng sâu,
Vào sâu tâm khảm mà cầu Như Lai…»

Kinh Thủ Lăng Nghiêm viết: «Vì ngươi đánh mất căn nguyên hằng cửu của ngươi, nên mới bị luân chuyển.» [12] Ngài Huệ Năng nói trong Pháp Bảo đàn kinh: «Người trong đời cả ngày miệng niệm Bát Nhã, mà chẳng biết Bát Nhã là Tính tự nhiên của mình.» [13]

Hồi Giáo cũng không có bí quyết gì khác. Thánh kinh Coran của Hồi giáo viết: «Thượng Đế gần con người hơn tĩnh mạch cổ con người.» [14] Và đây là lời của một ông già chất phác nguời Thổ Nhĩ Kỳ theo Hồi giáo nói cùng Alexis Zorba, con người chịu chơi, khi mà hắn còn là trẻ nít.

Alexis Zorba kể: «Lão Hussein Aga là một người thánh thiện. Một hôm lão đặt tôi lên đầu gối lão. Lão nói:

«Ta sắp nói với con một điều bí ẩn. Bây giờ hãy còn bé quá chưa có thể hiểu nổi. Nhưng mà khi nào lớn lên, con sẽ hiểu. Nghe lão nói đây con: Bảy tầng trời cũng như bảy tầng đất đều không đủ để chứa Thượng Đế. Nhưng tâm hồn con người chứa đựng được Ngài. Bởi vậy hãy cẩn thận Alexis, chớ có bao giờ làm thương tổn đến tâm hồn con người.» [15]

Đạo Công Giáo chính cũng có chủ trương tương tự. Thánh Paul viết: «Anh em chẳng biết thân xác anh em là đền thờ Chúa Thánh Linh, đấng ngự trong anh em hay sao?» [16] Ngài lại viết: «Anh em hãy ngợi khen và mang Thiên Chúa trong thể xác anh em.» [17] Và khi thuyết trình trước Viện Tối Cao Hi Lạp Ngài nói: «Chúng ta sinh động, và hiện hữu trong Thượng Đế … Chúng ta là dòng dõi Thượng Đế.» (Actes, 17, 29)

Thánh Augustin viết: «Chúa sâu xa hơn tâm khảm tôi, Và cao siêu hơn thượng đỉnh tôi.» [18]

Đối với đạo Cao Đài, quan niệm Trời chẳng xa người cũng rất là quen thuộc. Trong một bài thánh giáo có thơ rằng:

«Thầy ngự trong lòng mỗi chúng sanh,
Chúng sanh giác ngộ biết tu hành,
Thương yêu mựa tách người khôn dại,
Điều độ đừng chia kẻ dữ lành.» [19]

Trong quyển Lịch sử đạo Cao Đài phần Vô Vi, có một đoạn như sau:

«Thánh ngôn trong đạo Cao Đài có dạy: «Thầy là các con, các con là Thầy.» Thật đã bộc lộ được yếu tố mới mẻ, làm cho mọi người đều biết rằng Thượng Đế không phải là một đấng xa lạ, mang đặc tính của một địa phương hay ngồi trên cao chót vót mà nhìn xuống chúng sinh với tất cả sự hóa theo từng thân nhân loại để đem con người vào chỗ hòa đồng với Thượng Đế, điểm linh năng đầu tiên tạo nên vạn vật vũ trụ này.» [20]

Vậy đối với Đạo Cao Đài, thì Trời đã hợp nhất với con người để chuyển hóa tâm tư mọi người, và dìu dắt những người có căn duyên cho họ trở thành Tiên, Phật, Thánh [21].
 
B. TRỜI NGỤ TẠI TRUNG TÂM ĐIỂM ĐẦU NÃO CON NGƯỜI

Trên đây đã nói Trời ngự trong lòng ta, nhưng chữ lòng đây còn man mác, mơ hồ lắm. Chúng ta cần xác định lại cho minh xác. Đã đành Trời, Đạo ở khắp châu thân ta, vì như trên đã nói: «Đạo vô bất tại.» Nhưng chắc chắn Trời phải có một sở cư đặc biệt trong con người chúng ta. Sở cư ấy là đâu? Xin trả lời: Đó là Não thất Ba, ở ngay chính giữa đầu não con người. Chúng ta dám nói như vậy, vì đạo giáo, triết học, khoa học cho chúng ta những bằng chứng hết sức là chắc chắn.

Não thất ba là một động trống ở chính giữa đầu não con người, từ đó nhìn ra ta thấy như các thần kinh và các mạch máu đầu đều qui hướng, triều củng về. Não thất ba lại còn liên lạc trực tiếp với Não thất bốn và ống tủy xương sống, do đó với tất cả thần kinh khắp châu thân.

Theo Thiên văn thì Thượng Đế ngự tại sao Bắc thần, tâm điểm hoàn võ. Theo Dịch thì Thái Cực ở Trung tâm điểm vòng Dịch ở giữa các Hào quái. Theo tổ chức hành chính, chính trị xưa, ví dụ như ở Trung Hoa, thì Thiên Tử ngự trị ở giữa lòng đất nước. Cũng một lẽ, Thượng Đế sẽ ngự trị ngay ở Trung tâm điểm đầu não chúng ta, ở trong Nê Hoàn Cung, hay Thiên Cốc, hay Não thất ba.

Chúng ta có thể chứng minh điều này chẳng mấy khó khăn. Mundaka Upanishad viết:

«Nơi nào mà mọi thần kinh,
Như đũa gặp trục trong vành bánh xe.
Nơi thần kinh hội tụ về,
Là nơi Tạo Hóa chưa hề hóa thân.
Cố tìm Tuyệt đối, Chân Tâm,
Rồi ra sẽ thoát biển trần hôn mê.»

Where the channels are brought to
Like the spokes in the hub of a wheel.
Therein he moves about, becoming manifold.
Om! Thus meditate upon the Soul (atman).
Success to you in crossing to the farther shore beyond darkness.

(Mundaka Up. 2.2.6).

Nhìn vào các sơ đồ óc não của khoa Cơ Thể Học hiện nay, ta thấy các thần kinh óc não như muôn ngàn tai hoa qui tụ về não thất 3, chẳng khác nào muôn vàn giòng sông hiện tượng ào ạt đổ dồn vào trùng dương Bản thể.

Phật giáo có một câu chú hết sức là phổ thông, đó là chú: An ma ni bát minh hồng (Oum mani padme hum). Dịch Việt văn là: Ôi châu ngọc viên giác nằm tại liên hoa tâm. Các nhà bình giải cho rằng Liên Hoa Tâm đây chính là óc não con người.[22] Như vậy câu chú ấy có thể dịch nôm na như sau: Ôi! Tuyệt đối đã ở ngay giữa đầu não con người. Đó là một khám phá mà Phật giáo Tây Tạng coi là hết sức quan trọng.

Đạo Lão thời cho rằng:

«Đầu có chín cung, cung giữa là Nê Hoàn.» [23]
Mà «Nê Hoàn là sở cư của Thần minh.» [24]

Người xưa cũng gọi đó là Thiên Cốc. Thần ở Thiên Cốc, Cốc Thần. Mà Cốc Thần chính là Trời và Đạo. Tính mệnh khuê chỉ có thơ:

«Căn kinh đại đạo ít ai hay,
Thường nhân dùng mãi, biết nào ai?
Vì người, xin chỉ Thần Tiên động:
«Một khiếu cong cong tựa nét ngài.» [25]

Theo Thánh Kinh Công giáo, Thượng đế từng đối thoại với tông loài người là Adam và Eve trong một vườn địa đàng đầy an lạc. Vườn ấy có bốn con sông chảy theo hình thước thợ ra bốn phương trời.[26] Khảo địa dư ngày nay, không thấy nơi nào trong hoàn cầu 4 con sông chảy theo hình thước thợ như vậy. Nhưng khảo cơ thể học, ta thấy nơi óc não, thì não thất ở giữa. Quanh đó là một vòng động mạch Willis. Từ vòng động mạch Willis, phát xuất ra 4 động mạch, chảy theo hình thước thợ đi 4 phương óc.

Thế là Đào Nguyên, Lạc Cảnh vẫn nằm sẵn ngay trong đầu ở con người. Ở đó Thượng Đế thường xuyên đối thoại với mọi người qua tiếng của lương tâm… Vả đầu óc ta với vai với cổ, cũng y như núi Tu Di có mắt cổ bồng, trên đó có Phật ngự, theo tượng hình và từ ngữ Phật Giáo.[27]

Khảo Cơ Thể Học, ta cũng thấy rằng đốt xương sống cổ thứ được gọi là Atlas. Theo Thần thoại Hi Lạp, Atlas là thần đỡ Trời. Trong mình ta Atlas đỡ đầu óc ta. Như vậy cổ nhân muốn nói đầu ta chính là bầu trời vậy. Đầu ta chính là bầu trời, vì các sách Tướng Pháp cổ đều cho rằng mặt ta gồm đủ Nhật Nguyệt và Ngũ Tinh…

Đầu ta chính là bầu trời để mang chở Thượng Đế cho nên trán ta mới được gọi là Thiên đình (SânTrời), cho nên người xưa mới nói «Đầu tải thiên, túc lý địa.» (Đầu mang trời, chân đạp đất).

Tóm lại sau khi đối chiếu các tôn giáo với khoa học, triết học ta có thể kết luận rằng Trời ngự trong lòng ta. Nhưng “lòng” đây không phải là lòng ruột, không phải là hạ đơn điền, không phải là quả tim vì quả tim nằm chếch phía bên tả, chứ không ở chính giữa ngực, lòng đây cũng không phải là nơi mỏ ác, hay một điểm nào chơi vơi giữa tim và thận, như người đời thường lầm tưởng. Mà lòng đây phải được hiểu theo nghĩa bóng, phải được đem lên đầu, đem lên thượng đỉnh, đem lên não thất 3 ở chính giữa đầu óc, nơi mà mọi thần kinh mọi mạch máu óc não đều qui hướng về.

Người xưa đã chỉ tỏ cho ta rằng muốn tìm lòng, tìm chân tâm, chúng ta phải đi từ huyệt Bá Hội nơi đỉnh đầu đi xuống, và từ Ấn Đường nơi giữa hai làn mi đi vào. Giao điểm hai đường đó chính là Não thất 3. Có lẽ vì thế mà các tượng Phật, Thánh Ấn Độ thường có những phương cách đặc biệt để cho chúng ta chú ý đến đỉnh đầu và nơi giữa vầng trán…

Trong bộ Phật học đại tự điển, quyển đầu cũng có ghi: «Từ giữa hai làn mi đi sâu vào 1 tấc là Minh Đường, 2 tấc là Động Phòng, 3 tấc là Nê Hoàn.» [28]

C. NHỮNG HỆ QUẢ CỦA QUAN NIỆM TRÊN

a. Hệ quả triết học

1. Trời là bản thể con người
Nếu Thượng Đế hằng ngự trị trong lòng ta, thì Thượng Đế chính là căn cơ, gốc gác của ta, Thượng Đế chính là Bản thể của ta, là Chân tính của ta. Hiểu lẽ đó nên Mạnh Tử mới nói: «Tính người vốn tốt.»

Mạnh Tử viết thêm:

«Thấu triệt lòng sẽ hay biết Tính,
Hay biết Tính, nhất định biết Trời.
Tồn tâm, dưỡng tính chẳng rời,
Ấy là giữ đạo thờ Trời chẳng sai.»

(Mạnh Tử, Tận Tâm chương cú hạ, I).

Cho nên Trời ví như là căn bản, nguồn gốc nhân loại, quần sinh ví như là những cành lá, những dòng sông. Trời là bản thể bên trong, nhân loại quần sinh là những ứng dụng bên ngoài. Trời thì vi ẩn, nhân loại quần sinh thời hiển hiện, nhưng đôi đằng mật thiết tương quan với nhau.

Chu Hi viết: «Thể dụng nhất nguyên, hiển vi vô gián.»
«Thể với dụng cùng chung gốc rễ,
Hiển cùng vi khôn lẽ chia phôi.»

2. Luật Trời chẳng xa người
Nếu Trời chẳng xa được con người, thì làm sao mà luật Trời xa con người được.

Kinh Thi viết:

«Trời sinh ra khắp chúng dân,
Vật nào phép nấy định phân rành rành.
Lòng dân sẵn có căn lành,
Nên ưa những cái tinh thành đẹp tươi.» [29]

Thánh kinh Công Giáo nhiều lần đã long trọng xác nhận rằng luật Trời đã ghi tạc trong thâm tâm con người. Trong sách Deutéronome (Phục Truyền Luật Lệ ký), khi truyền 10 điều răn cho dân Do Thái, Chúa phán: «Thực vậy, lề luật mà ta truyền dạy ngươi hôm nay, không có ở ngoài tầm kích ngươi. Nó không có ở trên Trời, để ngươi phải nói: ‘Ai lên trời cho chúng tôi để tìm luật đó, để chúng tôi được nghe biết và được thi hành.’ Nó cũng chẳng ở cách trùng dương để ngươi phải nói: ‘Ai sẽ vượt biển cả cho chúng tôi để tìm luật đó, để chúng tôi được nghe biết và được thi hành, để ngươi có thể đem thực hiện.’» (Deutéronome, 30, 11-14).

Jérémie viết lại lời Thiên Chúa: «Ta để luật ta trong tầng sâu bản thể chúng, và sẽ viết luật ta trong đáy lòng chúng.» (J’erémie, 31, 33-34).

Về phía triết gia, ta thấy Emmanuel Kant viết: «Bầu trời đầy sao trên đầu ta và định luật luân lý trong lòng ta, đó là hai điều càng ngày càng làm cho tâm hồn ta phải kính phục.» (Cf. P. Ch. Lahr S. J., Morale, p. 486).

Herder (Johann Gottfried von, (1744-1803), một văn gia Đức, cũng chủ trương đại khái rằng: khuôn mẫu hoàn thiện chẳng lìa xa con người, mà đã ghi tạc trong thâm tâm con người. Mẫu người hoàn thiện đã sẵn có trong thâm tâm con người.[30]

3. Con người có hai phần Chân và Vọng

Vì Trời là căn cơ, là bản tính con người, vì trong lòng ta có Trời, vì Trời là bản thể nhân loại, nên thánh hiền xưa nay thường phân biệt hai phần chân và vọng trong con người. Phần Chân thời thường hằng, bất biến. Phần Vọng thời biến thiên, sinh tử.

Phần bất biến là Thiên, là Chân Tâm, Chân Ngã.

Phần biến thiên là Nhân, là Vọng Tâm, Vọng ngã.

Phần Chân thường, Chân Ngã nơi ta, người xưa gọi là Bản Lai Diện Mục, là Cốc Thần, là Huyền Tẩn, là Tính, là Thần, là Đạo, là Atman, là Cái đó (Giá cá) v.v…

Phần biến thiên phù phiếm nơi ta, thường được gói ghém trong mấy chữ: Tấm thân «Tứ Đại giả hợp», và bao gồm hết tâm tình, tư lự, tri giác, cảm xúc v.v… tất cả những yếu tố đó tạo nên con người thực tại và lịch sử như chúng ta đây, những con người đang sống trong vòng biến thiên, hiện tượng, đang còn chìm nổi trên trùng dương trần thế, bềnh bồng như thân phận cánh bèo, lòng những ước mơ hạnh phúc mà thật ra chưa mấy ngày là được hưởng hạnh phúc, thành thơi…

Thánh hiền xưa nay cốt chỉ cho con người thấy phần Thiên bất biến, bất diệt nơi con người.
Tính Mệnh Khuê Chỉ viết:

«Phụ mẫu sinh tiền một điểm linh,
Chẳng linh, vì đã kết thành hình.
Hình hài che khuất nguồn sáng láng.
Thoát hình âu sẽ vẹn tinh anh.» [31]

4. Tìm ra được phần bất biến ấy nơi con người, nhiên hậu mới lập được căn cơ tu trì vững chãi. Tiến thêm một bước nữa, ta có thể suy luận như sau:

Cái gì biến thiên, tức là có sinh, có tử, mà tâm tư ta có biến thiên nên có sinh có tử.

Cái gì bất biến, hằng cửu, mới bất sinh, bất tử.

Mà chỉ có Trời mới bất biến, hằng cửu, nên chỉ có Trời mới bất sinh, bất tử.
 

Trang Tử, vì biết trong mình có phần Thiên, nên mới dám nói:

«Ta và trời đất cùng sinh,
Ta và muôn vật sự tình chẳng hai.» [32]

Trời bất biến. Con người biến thiên. Đã biến thiên thì không vĩnh cửu. Vậy con người muốn vĩnh cửu, muốn trường sinh bất tử, phải kết hợp với Trời, nhân tâm phải kết hợp với Đạo tâm. Trường sinh bất tử không phải là một dữ kiện (fait donné) mà là cả một công trình phải thực hiện (oeuvre à réaliser).

Chính vì thế mà đạo Lão mới nói:
«Dục cầu nhân bất tử, Tu tầm bất tử nhân.»
«Muốn cho người được trường sinh,
Phải tìm ra đấng huyền linh, trường tồn.»

(Tiên Học, tr. 2)

Hoặc chủ trương: Tâm tử, Thần hoạt. (Tâm chết để Thần sống.)

Phật giáo cũng chủ trương rằng nếu có cái chân thường mà chắt chiu ôm ấp cái biến thiên, ấy là làm một công chuyện vô ích, xét về phương diện siêu nhiên.

Thủ Lăng Nghiêm viết:

«Phật bảo Anan: Từ muôn kiếp tới nay, chúng sinh bị lao lung, điên đảo, các nghiệp chướng sinh ra đầy dẫy như trái ác xoa. Còn những người tu hành chẳng thành được vô thượng bồ đề, lại thành ra những bậc thanh văn duyên giác, các thứ ngoại đạo, các trời và ma vương, ma quyến, đều là vì không biết hai thứ căn bản, tu luyện cuồng xiên, thác loạn, y như đòi nấu cát thành cơm, thì có đến ngàn muôn kiếp cũng chẳng được.»

Thế nào là hai thứ căn bản? Hỡi Anan: Một là căn bản sinh từ muôn kiếp, y như nay người và chúng sinh lấy tâm vọng tưởng (tâm phân duyên) làm tự tính. Hai là căn bản «Vô thủy Niết Bàn nguyên thanh tịnh thể đó ở nơi người, chính là «thức tinh nguyên minh» có thể sinh ra vạn duyên vạn sự, mà đã bị trần duyên làm mất bỏ. Cũng vì chúng sinh đã bỏ mất cái căn nguyên sáng láng ấy cho nên hằng ngày tuy vẫn luôn dùng, mà chẳng tự biết được nó; rồi ra, lặn lộn đắm đuối vào các thú vui uổng phí cả đời.[33]

Bỏ cái nguyên thường, trường cửu mà theo cái vô thường biến dịch, coi vọng tưởng mà lầm là «chân tính» của mình, thì khác nào nhận giặc làm con, làm sao thoát khỏi luân hồi, khổ ải?

Phật bảo Anan: «Cái đó là vọng tưởng do lục trần bên ngoài mà sinh, nên gọi là vọng tưởng. Nó làm hoặc loạn chân tính con người. Bởi vì từ xưa tới nay, ngươi nhận giậc làm con, bỏ mất tính chân thường của ngươi, nên ngươi bị luân chuyển.» [34]

Làm sao mà phân biệt được chân tâm, vọng tâm nơi con người?
 
Phật cho rằng cái gì từ bé đến già mà không thay đổi là chân tâm.

Theo đà thời gian tuế nguyệt, đầu ta bạc, mặt ta nhăn, nhưng cái chân tâm ấy chẳng hề nhăn chẳng hề bạc.[35] Mà đã không nhăn, không bạc, không biến, thì làm gì có sinh có diệt. Suy ra trong con người cái gì bất động, bất biến là Chân tâm.

Đã bất biến, thường trụ thời là chủ nhân; đã trừng tịch, bất động thời là Không.[36] Trái lại cái gì thay đổi biến thiên trong con người, cái gì giao động, thì là vọng tâm. Mà đã giao động,thì chẳng qua là trần ai, hay là khác qua đường mà thôi.

Cho nên vọng tâm chính là hiện tượng, sẽ bị sinh diệt, còn chân tâm mới là bản thể bất sinh, bất diệt. [37] Bỏ mất bản tâm, mà lại nhận duyên trần, nhận vật làm mình, nhận giao động, biến thiên làm chân tâm, chân cảnh, thì làm sao mà chẳng bị quay cuồng trong ngọn lốc luân hồi, lưu chuyển? [38] Không ý thức được quan niệm căn bản ấy, đã mất chân tâm, bản tâm rồi, thì dẫu có đem thân xuất gia, lòng vẫn chẳng nhập đạo, chẳng khác gì đứa con bỏ nhà cha ra đi, ắt bị lao lung, khổ ải. Tu trì như thế làm sao mà chứng quả được, cũng ví như nghe người nói chuyện uống ăn, thì làm sao no được.[39]

Tóm lại, ôm ấp, chắt chiu cái biến thiên, hủ hoại, mong ước cho nó được trở nên thường hằng, bất hủ, bất hoại, là muốn đi ngược lại định luật của trời đất, cũng y như là muốn cho má không nhăn, đầu không bạc, răng không rụng, để mà xuân mãi với thời gian.

Xưa nay, nào có phấn son, hương sắc nào mà không mờ phai cùng với quang âm, tuế nguyệt?

Nói cách khác: Gieo nhân nào thời được quả ấy. Nếu chúng ta lựa những hạt giống phàm phu, tục tử mà gieo giống thì chúng ta chỉ gặt hái được phàm phu, tục tử.

Nếu chúng ta tìm được những hạt giống Trời, Phật, Thánh, Thần mà gieo giống, thì chúng ta sẽ chứng được những quả Trời, Phật, Thần, Thánh. Xưa nay chưa từng ai cho ấp trứng gà mà lại nở ra con phượng bao giờ.

b. Hệ quả đạo giáo

1. Kính sợ Trời tiềm ẩn đáy lòng

Nếu Trời ngự trị trong lòng chúng ta, nếu chúng ta biết Trời soi xét tâm can chúng ta hằng phút hằng giây, tự nhiên chúng ta sẽ kính úy, sẽ thay đổi tính tình, sẽ cố ăn ở cho trang trọng, sẽ không còn dám làm điều sằng bậy.

Người xưa âu đã biết điều này nên mới nói: «Hoàng Thiên bất khả khi.» Hoặc: «Nhân gian tư ngữ, Thiên văn như lôi, Ám thất khuy tâm, Thần mục như điện.»

«Nhân gian thầm thì với nhau,
Trời nghe mồn một ngỡ đâu sấm rền.
Phòng riêng lòng trạnh nỗi niềm,
Trời nhìn tỏ rõ như in chớp lòa.»

Có biết kính úy, thời mới bước được vào con đường tu trì, tu thân, tiến đức thực sự.

Luận Ngữ viết: «Tu kỷ dĩ kính.» (Kính để sửa mình) (Luận Ngữ 14, 15).

Sách Écclésiastique viết: «Sự kính sợ Trời là khởi điểm cho sự khôn ngoan.» (Eccl. 1, 14).

2. Trọng kính mọi người, thương yêu mọi người

Nếu ta tin rằng có Trời tiềm ẩn trong lòng mỗi một người, tự nhiên ta sẽ đem lòng kính trọng đồng loại, bởi vì mọi người đều là những đền thờ sống động của Thượng Đế. Vì thế mà người quân tử «ra khỏi nhà thì trang trọng như đón khách quí, đối với dân, thì kính cẩn như đang cử hành đại lễ.» (Luận Ngữ, XII, 2).

Người Á Châu có lẽ đã sớm hiểu biết rằng Trời chẳng xa người, rằng đồng loại là trọng, nên hết sức kính trọng người khác. Khảo phong tục dân Việt, dân Ấn, dân Tàu, dân Nhật, đâu đâu ta cũng thấy có phong tục trọng khách, và lấy sự lễ độ làm giường mối cho mọi công cuộc giao tiếp.

Đằng khác, nếu nhận định rằng Trời là bản thể con người, thì chúng ta hoàn toàn giống nhau trên phương diện căn cơ, bản thể, trên phương diện lương tâm, mà chỉ khác nhau về tuổi tác, địa vị hoàn cảnh, màu da, sắc áo, v.v. Tóm lại xét về Bản thể, chúng ta đều là một.

Nghĩ thế cho nên chúng ta phải có bổn phận coi mọi người như anh em và có nhiệm vụ bác ái đối với mọi người.

Khẩu hiệu «Tứ hải giai huynh đệ» phải được nhân loại càng ngày càng đề cao và thực thi đến triệt để. Mới hay:

«Hoàn cầu phục vụ con người,
Con người nay trước, con Trời mai sau.
Nội tâm cố tiến vào sâu,
Cửa Trời dần mở, cơ mầu dần hay.
Chớ còn gàng quải đó đây,
Ngoài tuy muôn nước trong nay một nhà.
Thiên sơn, vạn thủy băng qua,
Muôn người như một thái hòa khắp nơi.»

3. Đi sâu vào đáy lòng để tìm Đạo tìm Trời

Nếu Trời đã ở trong lòng ta, thì con đường gần nhất để tìm Trời, tìm Đạo, chính là đi sâu vào đáy lòng để mà tìm kiếm. Tu trì chính là biết tập trung tư tưởng, biết gạn đục, khơi trong tâm hồn, để cho «tam hoa qui đỉnh, ngũ khí triều nguyên» cho mọi sự trở về căn nguyên đích thực của nó ở thấu 3, để cho lòng người phối hợp với lòng Trời.

Chính vì thế mà Mạnh Tử mới viết: «Đạo ở gần, mà cứ tìm ở xa.» (Mạnh Tử, Ly Lâu thượng, câu 2).

Thánh kinh Công giáo viết: «Nước trời ở trong anh em.» (Luc, 17, 21).

Emmanuel Svedenborg nói: «Trời ở bên trong chứ không phải ở bên ngoài chúng ta.» [40]

Albert le Grand nói: «Lên cùng Thượng Đế tức là trở về với lòng mình. Ai mà vào được tới đáy lòng mình, sẽ tự vượt, để đạt tới Thượng Đế.» [41]

Mạnh Tử viết:
«Cả vạn vật ở trong ta đó,
Quay về ta, ta cố tinh thành.
Kiện toàn hoàn thiện tinh anh,
Vui nào hơn được vui mình đang vui.» [42]

Môn phái khất sĩ Bauls ở Ấn Độ cũng chủ trương như vậy. Họ tha thiết đi tìm Trời, nhưng là đi tìm Trời trong lòng con người chớ không phải trong đền thờ, miếu mạo.[43] Họ cho rằng: Vũ trụ này được tạo dựng có mục đích là để cho Vô Cùng được thể hiện trong Hữu Hạn. Mà sự thể hiện này không phải sẽ thấy trên bầu trời đầy sao, mà sẽ thấy trong tâm hồn con người.[44]

Họ cũng quan niệm rằng: Con người sở dĩ không trông thấy Thượng Đế ngự trong lòng họ, vì họ bị choáng lòa bởi vọng tâm, vọng niệm, vọng ngã. Họ không biết có Thượng Đế trong họ, vì họ chỉ quan tâm đến tiểu ngã, vọng ngã, đến vật chất, ngoại cảnh, đến những thú vui trần tục.[45]

Maitri Upanishad viết:

… Tâm thường có hai chiều, hai vẻ,

Vẻ phàm phu và vẻ thanh cao.

Phàm phu dục vọng rạt rào,

Thanh tao vì chẳng xuyến xao tâm thần.

Lòng cố giữ thập phần tĩnh lãng,

Đừng ù lì phá tán lòng ai,

Hòa đồng hiệp nhất với Trời.

Ấy là tuyệt diệu trên đời mấy ai.

Lòng chớ để pha phôi, lạc lõng,

Tội tình chi lóng ngóng đông tây,

Đáy lòng giải thoát là đây,

Giác minh vô tận ở ngay đáy lòng.

Hãy cố gắng tập trung thần trí,

Thời oan khiên, phiền lụy tiêu tan.

Hòa đồng phối hợp Atman,

Ấy là hạnh phúc muôn ngàn tả sao?

Diễm tuyệt ấy lời nào tả xiết,

Chỉ tâm thần mới biết mới hay.

Nước kia nước nọ hòa hài,

Lửa phừng trong lửa ai người biện phân?

Khí pha khí, ai lần manh mối?

Đã hiệp rồi khó nỗi chia ly,

Tâm thần mà nhập huyền vi,

Thời thôi trần cấu còn chi bận lòng.

Lỡ giải kết ở trong hoàn võ,

Đều do tâm dây rợ mối manh.

Lụy là bám víu sự tình,

Tâm không lụy vật đã đành thần tiên.

(Maitri Upanishad, 6, 34).

 

Lĩnh hội vi ý sách Bồ Đề Đạt Ma huyết mạch luận, ta có thể tóm tắt tư tưởng của Ngài Bồ Đề Đạt Ma như sau:

 

Chân tâm bao quát đất Trời,

Xưa nay chư Phật chẳng rời chân tâm,

Chẳng cần lập tự, lập văn,

Trước sau chư Phật tâm tâm tương truyền.

Tâm ta gồm mọi nhân duyên,

Mọi đời sau trước, mọi miền gần xa.

Tâm ta là chính Phật đà,

Phật đà ở tại tâm ta chẳng ngoài.

Niết Bàn, Viên giác, Như Lai,

Ngoài tâm tìm kiếm công toi ích gì,

Ngoài tâm tìm kiếm được chi,

Niết bàn đâu có lối về ngoài tâm.

Tự tâm chí chính, chí chân,

Tự tâm là Phật, Tự tâm niết bàn.

Ngoài tâm tìm kiếm đa đoan,

Tay không bắt gió mơ màng hư vô.

Tâm ta tạo Phật cho ta,

Bỏ tâm tìm Phật hỏi là tìm đâu?

Phật Tâm, Tâm Phật trước sau,

Ngoài tâm tìm Phật hỏi sao chẳng lầm.

Cho nên phải biết hồi tâm,

Nội quan quán chiếu mà tầm siêu linh.

Bản lai diện mục của mình,

Muốn tìm thời phải ly hình nhập tâm… [46]

 

Mượn ý kinh Kim Cương và Bồ Đề Đạt Ma huyết mạch luận, ta có thể phác họa phương pháp tu thân, minh tâm kiến tính thành Phật như sau:

 

Hãy rũ bỏ phù vân sắc tướng,[47]

Hãy cố tìm vô thượng Bồ Đề.

Niết Bàn muốn rõ nẻo về,

Đừng nên chấp trước đam mê lụy trần.

Con đường giải thoát nội tâm,

Cố suy, cố nghĩ, cố tầm cho ra.[48]

Vọng tâm cố vén mây mù,[49]

Băng qua hình tướng, vào tòa Như Lai.[50]

Nơi vô trụ là nơi an lạc,[51]

Pháp Vô vi là pháp thánh hiền.[52]

Chớ đừng dính líu sự duyên,

Đừng đem thanh sắc mà phiền Như Lai.[53]

Hãy nhớ kỹ hình hài sắc tướng,

Đều một tuồng mộng tưởng mau qua,

Đầu là bào ảnh quang hoa,

Sương vương ngọn cỏ, chớp lòa chân mây.[54]

Như Lai chẳng ở đây ở đó,

Chẳng đi đâu, chẳng có đến đâu,[55]

Như Lai ở sẵn lòng sâu,

Vào sâu tâm khảm mà cầu Như Lai.

 

Đạo Lão cũng chủ trương muốn tìm Trời, tìm Đạo, phải tìm nơi tâm điểm của đầu não. Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ viết đại khái như sau:

 

«Ta nay truyền dạy Đạo Trời,

Nương theo Dịch lý dạy người điểm Trung.

Huyền quan ở chính giữa lòng,

Giữa chừng Tí Ngọ khơi dòng thần tiên.

Hồi quang soi tỏ căn nguyên,

Căn nguyên rạng rỡ, ước nguyền thỏa thuê.[56]

Đạo Cao Đài cũng dạy:

Đạo ở trong người chẳng phải xa,

Đừng nên tìm kiếm khắp ta bà.

Tâm linh lúc ẩn khi bày hiện,

Mặc mặc tham thiền sẽ lộ ra.[57]

Đại Thừa chân giáo viết:

Chớ nên ẩn núp núi xa,

Xưa nay các đạo hiểu ra rất lầm.

Đạo đâu? Đạo ở nơi tâm,

Thì đâu có phải kiếm tầm đâu xa ? [58]

 

Tóm lại nếu biết rằng trong lòng ta có Trời, thì chúng ta đã tìm thấy được con đường tìm đạo, tìm Trời giản dị và gần gũi nhất. Nếu thực tình chúng ta có thiện tâm, thiện chí muốn tìm Đạo, tìm Trời, chúng ta phải đi sâu vào nội tâm mà tìm Trời, tìm Đạo. Trời không phải là một chuyện bán mua, quảng cáo nơi ngã ba, đầu chợ. Nước Trời chẳng có đến rộn rã trong rước sách trống chiêng, mà đến âm thầm, mà đã ẩn tàng ngay trong tâm hồn ta.

Vậy muốn tìm ra chân sư, bày tỏ cho mình các lẽ huyền vi, chỉ giáo cho mình phương pháp tu luyện trường sinh bất tử, ta phải như Tề Thiên Đại Thánh tìm về Phương Thốn Sơn, tìm tới Tà Nguyệt Tam Tinh động, mà Phương Thốn Sơn chính là tấc lòng ta, mà Tà Nguyệt Tam Tinh Động chính là tâm ta viết bằng «nửa vành trăng khuyết và ba sao giữa Trời».

Đi vào nội tâm, gạt cho hết mây mù dục vọng tăm tối, không sờn lòng, không lui gót, chắc chắn có ngày chúng ta sẽ thấy Thời, thấy Đạo hiện ra rực rỡ giữa tâm hồn ta. Khi ta đã đạt được mục phiêu cao diệu ấy ta sẽ thấy thánh hiền sau trước chẳng hề có sai ngoa, và các đạo giáo cũng không có bí quyết gì cao diệu hơn được.


4. Mục đích công cuộc tu trì là phối hợp với Thượng Đế

Trời ngự trong lòng con người là một biểu dương tột độ của tình yêu Thượng Đế đối với nhân loại. Nhân loại nếu nhận ra được sự kiện này sẽ kính mến Thượng Đế hết lòng hết sức. Mà tình yêu sẽ đưa đến chỗ hòa đồng, hợp nhất.

Cho nên mục đích của công cuộc tu trì chính là đã đi đến chỗ thần thánh hóa con người, đi đến chỗ Phối Thiên.

Sách Thần học Đức nói: «Nếu có ai hỏi bạn thế nào là một thần nhân, bạn sẽ trả lời: Đó là người sáng láng rực rỡ bởi ánh sáng thiên chân vĩnh cửu, đó là người nồng cháy lửa yêu đương Thượng Đế.» [59]

Nho Giáo cho rằng tu là để đi đến chỗ «Duy tinh, duy nhất, doãn chấp quyết trung»!

Mà ta tạm dịch như sau:

Tinh ròng chuyên nhất ngày đêm,

Ra công ra sức giữ nguyên lòng Trời.

Như vậy muốn phối hợp với Thượng Đế, con người phải hoàn toàn rũ bỏ lòng phàm.

Người xưa gọi thế là «Tận nhân dĩ hợp Thiên» hay «Tâm tử thần hoạt» (Hồn chết đi cho Thần sống động).

Tiên Nho còn cho rằng phải đi cho tận nhân đạo rồi mới lên tới Thiên đạo (Tận nhân đạo tắc Thiên đạo chí). Lên tới Thiên Đạo tức là đạt đạo Trung Dung là Phối Thiên. Như vậy Phối Thiên là thoát nhân tính, mặc lấy Thiên tính.

Abu-Yazid một vị thánh Hồi Giáo nói: «Tôi đã gặp Chúa huyền năng trong giấc mộng và hỏi Ngài: «Đường nào đưa tới Chúa.» Ngài trả lời tôi: «Hãy trút bỏ ngã chấp và hãy vươn lên.» [60]

Yazid Bastami, một thánh nhân Hồi Giáo khác nói: «Tôi rũ bỏ hết hồn tôi, như con rắn lột xác, rồi tôi nhìn bản thể của tôi, và khi ấy ‘tôi’ chính là ‘Ngài’.» [61]

Ấn Giáo cũng cho rằng công phu tu luyện cao siêu nhất được kết hợp với Atman, với Thượng Đế.

 

«Từ nay âu đã thành Thần,

Từ nay mơ ước hồng trần tiêu tan.

Người Phàm nay đã siêu phàm,

Lòng trần nay đã biến sang lòng Trời.» [62]

 

Đạo Cao Đài cũng chủ trương:

«Tu là học để làm Trời,

Phải đâu kiếp kiếp làm người thế gian.» [63]

 

D. TỔNG LUẬN

Biết được rằng trong lòng mình có Trời, có Đạo, là tạo cho mình được một kho tàng quí báu vô cùng tận. Khi đã giác ngộ được điều cao đại này, chúng ta sẽ thấy trong lòng bùng lên một niềm phấn khởi vô biên, thấy đời sống có một ý nghĩa vô cùng cao đại, thấy định mạng con người thật là hết sức sang cả.

 

Chính vì trong con người có phần Trời, nên bất kỳ ai cũng có những khát vọng siêu nhiên, nên đạo giáo nào cũng muốn đem Trời lồng vào trong tâm hồn con người, hoặc bằng phương pháp tu trì, tĩnh tâm giác ngộ, hoặc bằng các lễ nghi, bí tích bên ngoài. Vì người chẳng thể xa Trời, cho nên các đạo giáo, đã luôn luôn bắc nhịp cầu nối kết Trời với Người, Người với Trời, nối kết Bản thể với Hiện tượng, Hằng Cửu với Biến Thiên, Đại Ngã với Tiểu Ngã, Chân Tâm với Vọng Tâm. Lời lẽ tuy khác nhau, nhưng nội dung, ý nghĩa chỉ là một.

 

Vì Trời vốn hoàn thiện nên con người có bổn phận tiến tới hoàn thiện. Tất cả những lời huấn dụ, tất cả những giới răn, những giác điều, qui điều đều có mục đích đưa dần con người tới hoàn thiện. Có tiến tới hoàn thiện, mới giác ngộ được căn bản tuyệt vời của mình, mới thực hiện được định mạng cao siêu của mình là phối hợp với Thượng Đế.

Dịch kinh viết:

Cơ Trời biến hóa vần xoay,

Làm cho vạn vật thêm hay thêm tình.

Kiện toàn tính mệnh của mình,

Giữ gìn toàn vẹn tính lành Trời cho.

Thế là ích lợi không bờ,

Thế là vĩnh cửu, thế là lợi trinh. [64]

 

Đã có sẵn mầm mống cao đại, mầm mống hoàn thiện trong người, dĩ nhiên chúng ta có bổn phận phát huy và triển dương cái mầm mống hoàn thiện, cao đại ấy cho nó được phát triển đến chỗ chí cùng, chí cực.

Thâm tâm sẵn có tính Trời,

Di luân, trung chính muôn đời y nhiên.

Khi tung, vô tận, vô biên,

Khi thu, ẩn áo im lìm tiếng tăm.

Nguồn cơn rõ lẽ biến hằng,

Kính tin rồi mới thành thân, thành người.

Thanh cao người lẫn bóng Trời,

Âm Dương biến hóa ngược xuôi khôn cùng…

 

Sài gòn, ngày 30/3/1971.

4 tháng 2 năm Tân Hợi.